Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

IMG_5094

Dưới đây là lời giới thiệu do Giáo sư Alvin Roth viết riêng cho độc giả Việt Nam nhân dịp cuốn sách về công trình đoạt giải Nobel của ông được xuất bản ở Việt Nam. (Cuốn sách Ai được gì và tại sao (Who gets what and why), Đặng Xuân Tùng dịch.)

LỜI NÓI ĐẦU CHO BẢN TIẾNG VIỆT

Việc dịch một cuốn sách về thị trường từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một cơ hội để ghi nhớ rằng thị trường, giống như ngôn ngữ, là tạo tác cổ xưa của con người. Cả thị trường lẫn ngôn ngữ đều là những công cụ do loài người cùng nhau tạo ra để giúp chúng ta phối hợp với nhau, và do vậy chúng ta không ngừng cập nhật chúng để đáp ứng được những yêu cầu hiện đại.

Giống như việc có các ngôn ngữ khác, cũng có những kiểu thị trường khác nhau, và có những cách khác nhau để tổ chức chúng. Thị trường hàng hóa là thị trường mà trong đó giá cả quyết định việc ai sẽ được cái gì, và các thành phần tham gia thị trường có thể giao dịch với nhau mà không cần phải xưng danh. Nhưng nhiều thị trường liên quan đến các mối quan hệ, và trong những thị trường này bạn quan tâm đến việc mình sẽ giao dịch với ai, và ai sẽ được cái gì không được quyết định chỉ bởi giá cả.

Thị trường ghép đôi là thị trường mà trong đó bạn không thể chỉ lựa chọn thứ bạn muốn, mà bạn còn phải được chọn nữa. Giá cả mình nó không làm tất cả mọi việc trong thị trường ghép đôi, và thỉnh thoảng chúng ta không để giá cả đóng bất cứ vai trò nào. Việc ghép đôi ở dạng này hay dạng khác sẽ quyết định ai sẽ tới trường trung học hay trường đại học nào, ai sẽ nhận được việc làm nào, và ai sẽ cưới ai, và đôi khi là ai sẽ được nhận một loại chăm sóc y tế cụ thể nào đó, như việc cấy ghép tạng chẳng hạn. Continue reading Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

Advertisements

Các bố mẹ ơi, vitamin lạc quan đây rồi! (Vài lời lạc thú về cuốn sách Mẹ Đoảng)

Fotor_151321960960629Trưa nay là một buổi ít ỏi tôi ra ngoài ăn, và thú vị là tôi đã có một bữa trưa đơn giản nhưng lại kèm món tráng miệng cực kỳ đáng yêu – cuốn sách Mẹ đoảng tôi nhấm nháp ngay dưới hiệu sách của chúng tôi. Nó đáng yêu đến mức tôi đã ăn hết gần nửa nó ngay lúc đứng đó. May quá, không vãi mỏi chân!

Không thể chịu nổi một cái gì như thế này! Bìa hồng hồng sữa sữa, câu chữ nhảy nhót, một đống tên gọi hãng bỉm sữa địu ngồi khăn quấn áo ngủ đồ ăn trẻ con và hoạt hình nữa, hàng đàn những thứ thú vị tuôn ra từ từng chương! Nó thật sự rất là… hừm… rất là mẹ, rất là nhộn nhạo, rất là vặn xoắn, rất là trồi trụt; và rất là dịu dàng ngập tràn dành cho con. Tôi nhìn thấy tôi, thấy một tỉ các mẹ khác ở trong những trang sách này, và cũng nhìn thấy tình mẹ sâu sắc mà mỗi người mẹ bình thường nào hẳn cũng có sẵn trong máu chảy và sữa ngọt của mình.

Sách này hình thành từ blog được hâm mộ cực độ của chị mẹ có bằng danh dự hạng nhất về triết học (nhưng chỉ dùng đến nó khi bắt đầu nuôi dạy các con mình). Sách phân chia chương rõ ràng, câu chữ ngắn gọn, rất ít từ chuyên môn cứng nhắc, hài hước là chủ đạo, thân thiện cực kỳ, đọc dễ như ăn bánh mút chanh leo ý!

Continue reading Các bố mẹ ơi, vitamin lạc quan đây rồi! (Vài lời lạc thú về cuốn sách Mẹ Đoảng)

Ai được gì và tại sao – Review ngắn!

ai được gì và tại saoCuốn sách “Ai được gì và tại sao” của GS Alvin Roth mới được phát hành 2 tuần trước, nhưng có vẻ như ngay lập tức được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt.

Là một cuốn sách về lý thuyết đoạt giải Nobel Kinh tế, dường như có vẻ “cao siêu” nhưng sách lọt vào bảng xếp hạng sách bán chạy trong tuần của nhiều nhà sách, kể cả Vinabook và Tiki.

Điều này không quá khó hiểu, bởi trong cuốn sách này GS Alvin Roth không chỉ nói về lý thuyết “ghép đôi”, mà nói rất nhiều về kinh nghiệm thực hành lý thuyết này. Quan trọng hơn, cả lý thuyết và thực hành được viết trong sách đều rất gần gũi với cuộc sống hiện đại: smartphone, internet, và các ứng dụng phục vụ nhu cầu hàng ngày của mỗi cá nhân. Chưa hết, nội dung của cuốn sách cực kỳ phù hợp với các ý tưởng start-up thời thượng: công nghiệp 4.0, big data, và nền kinh tế chia sẻ.

Kiến thức, thực hành, và các hiểu biết sâu sắc về “ghép đôi” của tác giả cuốn sách cũng rất phù hợp với các vấn nạn mà nền kinh tế và xã hội Việt Nam đang vướng phải: giao thông, y tế, giáo dục.

Cách nay vài năm, GS Ngô Bảo Châu, GS Đỗ Quốc Anh, GS Vũ Hà Văn, TS Lê Hồng Giang cũng đã sử dụng lý thuyết “ghép đôi” của Alvin Roth để xây dựng đề án cải cách thi đại học và trình lên Bộ Giáo Dục. Xem chi tiết ở đây: https://hocthenao.vn/2015/09/16/ve-viec-ap-dung-thuat-toan-daa-cua-gale-shapley-trong-xet-tuyen-doi-thoai-giao-duc/

Khi bạn đi xin việc, hay tìm người yêu, bạn không chỉ chọn việc hay chọn người tình, mà còn có chiều ngược lại, công ty chọn bạn và người kia cũng phải chọn bạn. Đó chính là sự ghép đôi.  Continue reading Ai được gì và tại sao – Review ngắn!

Đừng làm mẹ hổ, hãy nuôi dạy con kiểu cá heo!

Nuôi dạy con kiểu cá heo (c) Chi Na Chan.JPGCác bậc cha mẹ hiện đại giờ đây có điều kiện tiếp xúc với muôn ngàn trường phái dạy con, kiểu Nhật, kiểu Pháp, kiểu mẹ hổ Trung Quốc…, đủ để riêng việc chọn cách dạy con cũng đã điên đầu rồi. Nhưng giữa những trường phái đó, nhiều đứa trẻ vẫn loay hoay với áp lực quá tải từ thời khóa biểu dày đặc cả các môn học và hoạt động ngoại khóa, cùng với đó là căng thẳng lo âu nối tiếp. Có lẽ đây cũng chính là hệ quả trực tiếp từ sự bối rối của các bậc cha mẹ trước 1001 cách dạy con: thiếu định hướng hoặc định hướng hẹp, thiếu tầm nhìn cho cả con và mình.

Cuốn sách Nuôi dạy con kiểu cá heo của bác sĩ tâm lý Shimi Kang sẽ giúp các bậc cha mẹ định hướng lại cách dạy con, tập trung vào sự cân bằng và hòa nhập, với mong muốn trẻ có thể sống vui, khỏe, thông minh lanh lợi, hòa hợp với môi trường xung quanh như những chú cá heo. Đây là một định hướng rộng mở hơn hẳn trọng tâm hẹp của cách dạy con hổ báo, tập trung vào thành tựu và thành tích mà bỏ quên những yếu tố quan trọng khác trong cuộc sống của trẻ, như sức khỏe và cân bằng tâm lý, nhưng đồng thời cũng cụ thể hơn hẳn cách dạy con thiếu định hướng của những cha mẹ sứa không cần kỷ luật, không cần trật tự rõ ràng.

Continue reading Đừng làm mẹ hổ, hãy nuôi dạy con kiểu cá heo!

Nuôi con khéo, chăm con nhàn: Đừng hy sinh bản thân để làm mẹ

DSCF7578Không có gì thay đổi cuộc sống của một người phụ nữ hơn quyết định có con. Cuộc sống của riêng mình đột nhiên biến mất, tất cả mọi thứ mình làm đều xoay quanh một đứa trẻ. “Hy sinh” dần trở thành lối sống của rất nhiều bà mẹ, một điều nghe thì cao cả nhưng thật ra rất khủng khiếp: có những người mẹ chỉ xoay xở được 20 phút cho riêng mình để giải quyết tất cả các nhu cầu cơ bản vừa đủ để sống sót. Chẳng lẽ không còn cách chăm con khác không hút kiệt sức lực và tinh thần các mẹ?

Với cùng câu hỏi đó, Joon Hee Kim, một bà mẹ đã tốt nghiệp thạc sĩ tại MIT nhưng vẫn muôn phần bỡ ngỡ và choáng ngợp với nhiệm vụ làm mẹ khi sinh con đầu lòng năm 2011, đã thử nghiệm nhiều cách chăm con khác nhau, để rồi đúc rút ra phương pháp trong cuốn sách Nuôi con khéo, chăm con nhàn được hưởng ứng rất tích cực tại Hàn Quốc. Cốt lõi của phương pháp này chính là một nhận thức hoàn toàn khác biệt về vai trò của mẹ đối với con nhỏ: mẹ không thể là đáp án cho mọi vấn đề của con. Continue reading Nuôi con khéo, chăm con nhàn: Đừng hy sinh bản thân để làm mẹ

Giải Nobel Vật Lý 2017 – Trích Các thế giới song song

DSC06403Năm nay giải Nobel Vật Lý được trao cho ba nhà vật lý đã có công xây dựng và vận hành trạm LIGO, là nơi đã dò tìm được sóng hấp dẫn. Dưới đây là trích đoạn nói về LIGO từ cuốn sách Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku.

Chính Einstein, vào năm 1916, là người đầu tiên đề xuất sự tồn tại của các sóng hấp dẫn. Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu Mặt Trời biến mất. Bạn còn nhớ ví dụ một quả bóng bowling lún vào tấm đệm chứ? Hay tốt hơn là một giàn nhún nhỉ? Nếu quả bóng đột nhiên bị lấy đi, giàn nhún sẽ ngay lập tức bật ngược trở lại vị trí ban đầu, tạo ra các sóng xung kích khẽ lan truyền ra phía ngoài dọc theo giàn nhún. Nếu quả bóng bowling được thay thế bằng Mặt Trời, thì chúng ta thấy rằng các sóng xung kích của hấp dẫn di chuyển theo một tốc độ cụ thể, là tốc độ ánh sáng.

Mặc dù sau đó Einstein đã tìm thấy một lời giải chính xác cho các phương trình của mình với sự có mặt của các sóng hấp dẫn, nhưng ông đã mất hết hy vọng trong đời được thấy dự đoán của mình được xác nhận. Các sóng hấp dẫn rất yếu. Ngay cả các sóng xung kích của các ngôi sao đang va chạm cũng không đủ mạnh để có thể đo đạc bằng các thực nghiệm hiện tại.

Hiện nay, các sóng hấp dẫn chỉ được phát hiện một cách gián tiếp. Hai nhà vật lý Russell Hulse và Joseph Taylor Jr. đã phỏng đoán rằng nếu phân tích các sao nơtron đôi đang xoay tròn và rượt đuổi nhau trong không gian, thì mỗi ngôi sao sẽ phát ra một luồng sóng hấp dẫn khi quỹ đạo của chúng từ từ suy sụp, tương tự như các vệt lằn được tạo ra khi ta khuấy mật đường. Họ đã phân tích đường xoắn ốc chết chóc của hai ngôi sao nơtron khi chúng từ từ quay xoắn lại với nhau. Đối tượng khảo sát của họ là sao nơtron đôi PSR 1913+16, nằm cách Trái Đất khoảng 16.000 năm ánh sáng, quay quanh nhau với chu kỳ 7 giờ 45 phút, và phát xạ các sóng hấp dẫn vào khoảng không vũ trụ.

Sử dụng thuyết của Einstein, họ thấy rằng hai ngôi sao sẽ nhích lại gần nhau một milimét sau mỗi vòng quay. Mặc dù đây là một khoảng cách vô cùng nhỏ, nhưng sau một năm nó tăng lên một yard (0,91 mét), khi quỹ đạo 435.000 dặm (700 km) từ từ thu nhỏ lại. Công trình tiên phong của họ đã chỉ ra rằng quỹ đạo hai ngôi sao suy sụp chính xác như thuyết của Einstein đã dự đoán trên cơ sở của sóng hấp dẫn. (Trên thực tế, các phương trình Einstein dự đoán rằng các ngôi sao cuối cùng sẽ lao vào nhau trong vòng 240 triệu năm, do mất đi năng lượng đã bức xạ vào không gian dưới dạng các sóng hấp dẫn.) Với công trình này, họ đã giành giải Nobel vật lý vào năm 1993.*

Continue reading Giải Nobel Vật Lý 2017 – Trích Các thế giới song song

Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

DSC06403Vera Rubin, nhà thiên văn học nữ hiếm hoi trong lịch sử, qua đời ngày 25 tháng 12 vừa qua. Trong những năm 1970, Vera Rubin và đồng nghiệp đã quan sát thiên hà Andromeda và xác nhận sự tồn tại của vật chất tối (dark matter) trong vũ trụ, một ý tưởng được Friz Zwicky ở Caltech đưa ra năm 1933. 

Vera Rubin hiểu hơn ai hết sự phân biệt giới trong khoa học, đặc biệt là thiên văn học, một lĩnh vực do nam giới thống trị hàng ngàn năm. No room for woman. Nhiều nhà vật lý đương đại cho rằng ủy ban Nobel bỏ quên Vera Rubin là việc rất đáng trách. 

Dưới đây là “Omega và Vật chất tối” trích từ Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku (Nhã Nam, NXB Thế Giới, 2015).

OMEGA VÀ VẬT CHẤT TỐI

Câu chuyện về vật chất tối có lẽ là một trong những chương kỳ lạ nhất trong vũ trụ học. Trở lại thập niên 1930, nhà thiên văn người Thụy Sĩ không theo một khuôn phép nào là Fritz Zwicky của Cal Tech nhận thấy rằng các thiên hà trong quần thiên hà Tóc Tiên (Coma) không di chuyển chính xác theo học thuyết hấp dẫn của Newton. Ông thấy các thiên hà này di chuyển nhanh tới mức lẽ ra chúng phải bay tứ tán và đám thiên hà này phải tan rã, nếu tuân theo các định luật Newton về chuyển động. Ông nghĩ rằng cách duy nhất mà quần thiên hà Tóc Tiên có thể được giữ lại với nhau, thay vì bay tứ tán ra ngoài, là cụm này phải có lượng vật chất nhiều hơn hàng trăm lần so với lượng vật chất có thể nhìn thấy được bằng kính thiên văn. Hoặc là các định luật Newton vì lý do nào đó đã không còn đúng ở các khoảng cách tầm thiên hà hoặc đã có một lượng rất lớn vật chất vô hình bị bỏ sót trong quần thiên hà Tóc Tiên đã giữ nó lại cùng nhau.

Điều này là dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử rằng có một cái gì đó hết sức không ổn liên quan tới sự phân bố của vật chất trong vũ trụ. Điều không may là các nhà thiên văn đã đồng loạt từ chối hoặc bỏ qua công trình tiên phong này của Zwicky, vì vài lý do.

Trước hết, các nhà thiên văn khó có thể chấp nhận rằng thuyết hấp dẫn của Newton, vốn đã thống trị vật lý trong vài thế kỷ, lại có thể không đúng. Có một tiền lệ để xử lý các khủng hoảng giống như vậy trong thiên văn học. Khi quỹ đạo của sao Thiên Vương được phân tích trong thế kỷ 19, người ta thấy rằng nó bị lắc lư – bị lệch một lượng nhỏ so với các phương trình của Isaac Newton. Vì vậy, hoặc là Newton sai, hoặc phải có một hành tinh mới mà lực hấp dẫn của nó đã lôi kéo sao Thiên Vương. Hóa ra điều thứ hai là đúng, và sao Hải Vương được tìm thấy ngay từ nỗ lực đầu tiên vào năm 1846 bằng việc phân tích vị trí dự đoán của nó theo các định luật Newton.

Thứ hai, có vấn đề liên quan đến tính cách của Zwicky và đến việc các nhà thiên văn đã đối xử với những “kẻ ngoại đạo” như thế nào. Zwicky là một người nhìn xa trông rộng nhưng thường hay bị chế giễu hay bị bỏ qua trong suốt cuộc đời. Năm 1933, cùng với Walter Baade, ông đã đặt ra từ “supernova” (“sao siêu mới”) và dự đoán đúng rằng một sao nơtron nhỏ, kích thước khoảng 14 dặm (22,5 km), sẽ là tàn tích cuối cùng của một ngôi sao nổ tung. Ý tưởng này kỳ dị tới mức nó đã bị đả kích trong một bức tranh biếm họa trên nhật báo Los Angeles Times vào ngày 19 tháng 1 năm 1934. Zwicky tức giận một nhóm nhỏ các nhà thiên văn thượng lưu, những kẻ mà ông nghĩ rằng đã ra sức không công nhận ông, đã ăn cắp các ý tưởng của ông và không cho ông làm việc trên các kính viễn vọng 100 và 200 inch (2,5 m và 5 m). (Ngay trước khi ông qua đời vào năm 1974, Zwicky tự xuất bản một danh lục liệt kê các thiên hà. Danh lục này mở đầu với tiêu đề: “Một lời nhắc nhở với các Tu sĩ Cao cấp của Thiên văn học Mỹ và những kẻ nịnh hót họ.” Bài tiểu luận này đã đưa ra lời phê phán nghiêm khắc bản chất bè phái, hẹp hòi của tầng lớp thượng lưu trong giới thiên văn học, những kẻ có xu hướng loại trừ những người không tuân theo khuôn phép như ông. “Ngày nay những kẻ nịnh hót và những kẻ trộm cắp rõ ràng dường như được tự do, trong hội Thiên văn học Mỹ nói riêng, chiếm đoạt các khám phá và các sáng kiến do những con sói cô độc và những kẻ không theo lề thói tạo ra,”* ông đã viết như vậy. Ông còn gọi các cá nhân này là “những kẻ chết tiệt béo tròn,” bởi vì “chúng là những kẻ chết tiệt theo bất kỳ cách nào bạn nhìn chúng.” Ông còn điên tiết vì đã bị gạt ra khi giải Nobel được trao cho người khác do thành tích phát hiện ra sao nơtron.*)

Continue reading Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song