Sử ký: thiên cổ kỳ thư – Thanh Khê

su-ky_3_

Tư Mã Thiên tự Tử Trường, làm Thái sử lệnh thời nhà Hán, được tôn là sử thánh của Trung Hoa. Lên mười đã thông thuộc nhiều kinh sử văn chương, hai mươi tuổi đã theo cha du hành tứ hải. Giữa thời buổi nghề viết văn viết sử bị “Chúa thượng đùa bỡn, nuôi như bọn con hát”, còn “Thế tục thì vẫn coi thường”, mà cha con họ Tư Mã vẫn ôm mộng làm Chu Công, Khổng Tử. Mới thấy, đó không phải là lối tư duy lọc lõi của kẻ thức thời.

Sinh thời thân phụ ông cũng làm sử quan, nhưng mộng lớn dở dang, trước khi qua đời đành gửi gắm lại cho con trai. Chí lớn, tâm hồn phóng khoáng là thế, mà tính tình cương trực, thân cô thế côi. Đến nỗi phải chịu cung hình, đứng ngang hàng với đám hoạn quan, nỗi nhục lớn nhất đối với bậc chính nhân quân tử. “Thân thể tàn phế, uất ức một mình chẳng biết tỏ cùng ai”, cực chẳng đã bèn nuốt hận mà sống, lặng lẽ biên chép thế sự, gửi cho hậu thế. Bởi vậy mà Sử ký của họ Tư Mã mang tầm vóc của ngàn năm, chứ không phải thứ tham vọng công danh đương thế, cũng chẳng phải lời lẽ bợ đỡ quân vương.

Nói về tầm vóc của Sử ký, khó mà gói gọn trong một vài lời được. Lỗ Tấn bảo “một tập Ly Tao không vần”. Quách Mạt Nhược lại đánh giá đây là bản tổng kết văn hóa Trung Quốc lần thứ hai, công lao so với Khổng Tử thì “không hơn không kém”. Sử ký đồ sộ, trước nay chỉ có vài bản tuyển dịch vào Việt văn. Nên nỗ lực dịch trọn bộ của công ty sách Nhã Nam, có thể nói là lần đầu tiên.

Đó cũng là điều dễ hiểu. Vì trong số 5 phần của Sử ký, Bản kỷ phần nhiều là huyền sử, hoặc nếu không cũng thuộc một thời quá vãng xa xôi, khó gợi nên niềm hứng khởi. Biểu, Thư tuy hệ thống, công phu nhưng e không hợp với tính giải trí đơn thuần. Có chăng là Thế gia, và Liệt truyện, các phần dài nhất, và hấp dẫn nhất đối với đông đảo độc giả. Chi tiết bài viết này xin được dành cho phần Liệt truyện quyển thượng, phần mới nhất vừa được ra mắt của bộ Sử ký.

Đọc Liệt truyện, ta thấy thấp thoáng cái cao vọng thánh nhân (Lão tử, Hàn Phi liệt truyện), cái khí khái phóng túng bốn phương (Du hiệp liệt truyện), và tâm hồn đa sầu đa cảm (Khuất Nguyên, Giả Sinh liệt truyện). Tư Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình sống mãi trong văn học: nông dân, du thuyết gia, hiệp khách, triết gia, danh tướng. Chẳng những ở bên Trung Hoa có ông Lý Bạch lấy cảm hứng từ truyện Tín Lăng Quân, làm nên thi phẩm Hiệp Khách Hành trác tuyệt. Mà ở ta cũng thấy một Kinh Kha “trầm tư hồn bể dâu” trong thơ Vũ Hoàng Chương. Một Nhiếp Chính “tự lột da mặt, khoét mắt, mổ bụng moi ruột mà chết”để không liên lụy tới thân nhân, qua lời ta thán của Nguyễn Bính: “Hỡi ơi! Nhiếp Chính mà băm mặt/Giữa chợ ai người khóc nhận thây?” Sử ký không chỉ dành cho giới sử gia, mà còn là món ăn tinh thần cho những tâm hồn ái mộ văn hóa văn chương, ở khắp cõi Á Đông, chứ chẳng riêng gì xứ Trung Hoa cả.

Văn của Tư Mã Thiên là lối tự sự khúc chiết, chắc nịch, dùng những tình tiết đắt giá để phô bày bản chất khách quan, chứ chẳng lí luận dông dài. Chỉ một câu mắng của ả đàn bà đập vải ven sông, mà thấy ngay cái nhục thuở hàn vi của Hàn Tín. Chỉ qua hành động chém hai ái phi của Ngô Vương để thị uy, là đủ thấy cái tài thao lược của Tôn Tử, chẳng cần dông dài bàn chuyện “Tây phá nước Sở hùng mạnh”, “bắc ra oai với Tề”. Chỉ một cuộc sơ ngộ giữa Khổng Tử và Lão Tử, là thấy được cái dáng rồng, lẽ huyền vi của Đạo gia (Lão Tử, Hàn Phi liệt truyện). Dăm ba cuộc đối đáp sư đồ mà sáng rõ đức tài của Trọng Ni Khổng Tử (Trọng Ni đệ tử liệt truyện). Chuyện Tôn Tẫn đả bại tướng Ngụy là Bàng Nguyên còn ly kỳ hơn Tam Quốc Chí.

Phương Tây thường so sánh Tư Mã Thiên với Herodotus, “cha đẻ của sử học”.  Thế nhưng tác phẩm The Histories của Herodotus là một công trình nghệ thuật, một cơ hội để thể hiện tài nghệ văn chương, đôi khi còn là phương tiện để chuyển tải tư tưởng riêng tây. Vì vậy mà tình tiết thật giả đan xen không ít. Trong khi Sử kí là một công trình mẫu mực, xác tín, sử quan đời sau đều lấy đó làm căn cứ.  Không những thế, những nhân vật lịch sử của ông có sức sống mãnh liệt đến nỗi khó có sáng tạo văn học nào thay đổi được những hình tượng ấy trong mắt công chúng. Nói thế, không phải để so đo hơn kém giữa sử quan Đông Tây, nhưng chỉ để nói rằng việc một công trình sử vừa đảm bảo được tính xác tín khoa học, vừa có sức sống văn chương, quả là điều hiếm thấy.

Kẻ dũng không cần phải lấy cái chết để giữ khí tiết, đó là cách nghĩ của Tư Mã Thiên. Vì lẽ, “Văn Vương bị giam mà diễn giải Chu Dịch. Trọng Ni gặp nạn làm kinh Xuân Thu. Khuất Nguyên bị đuổi nên ngâm Ly Tao”. Nếu ông vì cái nhục của kẻ sĩ mà coi rẻ sinh mạng mình, thì đâu sáng danh họ Tư Mã như lời cha dặn, đâu nên một thiên cổ kỳ thư lưu truyền ngàn đời. Vậy mà Tư Mã Thiên vẫn khiêm tốn bảo rằng ông chỉ chép mà thôi, chứ đâu có công lao sáng tạo gì. Mới thấy đối với bậc thức giả, giữ được cái thiện tính trung thực, quả là điều không dễ dàng vậy.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s