Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh

viet-nam-van-hoa-su-cuongTrích từ Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh.

Tổ tiên ta bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu đời Bắc thuộc, mà có lẽ từ đời Triệu Đà nữa, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp. Cách tổ chức ấy, sử sách không chép rõ như thế nào, song ta có thể đoán là còn sơ sài lắm, mà trình độ giáo dục cũng chưa được cao, cho nên phàm những người có tiếng về học vấn ở thời đại Bắc thuộc đều đã du học ở Trung Quốc (Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng). Đến triều Ngô và triều Đinh độc lập vì trị nước không được lâu mà lại phải lo chỉnh đốn việc võ bị và chính trị, chưa rảnh mà tổ chức việc giáo dục, cho nên việc học bấy giờ chỉ có ở trong các chùa chiền. Ta có thể nói rằng đời bấy giờ Hán học nhờ Phật học mà truyền bá ở trong dân gian. Lý Công Uẩn là vua sáng nghiệp của triều Lý, cũng từng chịu giáo dục ở nhà chùa[1].

Triều Lý, đến đời Lý Thánh Tôn (1054-1072) thì việc dẹp loạn đã tạm yên, việc chính trị cũng đã chỉnh đốn, nên vua đổi quốc hiệu là Đại Việt và bắt đầu sửa sang việc học. Ngài sai lập Văn Miếu (nước ta có Văn Miếu là từ đấy), sai làm tượng Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền để thờ, tỏ ý tôn trọng Nho học. Đời vua Trần Nhân Tôn, năm 1075 mở khoa thi tam trường để chọn người minh kinh bác học bổ làm quan, đó là kỳ thi thứ nhất ở nước ta, chọn được mười người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076 vua lại lập trường Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài, rồi đến năm 1086 lại mở khoa thi chọn người vào Hàn lâm viện, có Mạc Hiển Tích đậu đầu, được bổ Hàn lâm học sĩ. Thời bấy giờ Nho giáo đã được suy tôn, song Phật giáo và Lão giáo cũng đồng thịnh cho nên nhà vua lại thường mở khoa thi tam giáo (đời Lý ASang triều Trần, ngay đời Trần Thái Tôn, việc giáo dục và khoa cử đã tổ chức châu đáo hơn ở triều Lý. Năm 1232, ngoài phép thi tam trường như đời trước lại mở thêm khoa thi Thái học sinh, chia làm tam giáp để phân biệt cao thấp (theo phép thi của nhà Minh nước Tàu). Đến khoa thi năm 1247 lại đặt ra tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa) ở trên Thái học sinh. Cũng năm ấy lại có khoa thi tam giáo bắt học sinh phải thi cả ba môn Nho học, Phật học và Lão học. Năm 1253, lại lập Quốc học viện để giảng tứ thư ngũ kinh và lập Giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Ta xem thế thì thấy ở đời Trần Thái Tôn, không những phạm vi việc học rộng rãi, kiêm trọng cả Nho, Phật, Lão, mà việc giáo dục lại trọng cả trí dục và thể dục. Tiếc vì sử sách chép sơ lược ta không thể nghiên cứu rõ ràng về cách tổ chức và chương trình.

Đến đời Trần Anh Tôn, năm 1311 sửa lại phép thi chia làm bốn kỳ: kỳ thứ nhất thi ám tả; kỳ thứ nhì thi kinh nghĩa và thơ phú; kỳ thứ ba thi chế, chiếu, biểu; kỳ thứ tư thi văn sách. Đời Trần Duệ Tôn, năm 1374, Lê Quí Ly lại cải cách phép thi đổi Thái học sinh làm Tiến sĩ cho tam khôi và Hoàng giáp là cập đệ xuất thân, cho Tiến sĩ là đồng cập đệ xuất thân. Về chương trình thì đời Thuận Tôn, năm 1397, Quí Ly định lại bốn trường và bỏ món ám tả, nhất trường thi kinh nghĩa; nhị trường thi thơ phú, tam trường thi chiếu, chế, biểu; tứ trường thi văn sách. (Đến đời Hồ Hán Thương lại thêm một món thi toán pháp). Quí Ly lại bắt đầu định phép thi hương, có trúng tuyển cử nhân mới được dự thi hội năm sau, ai trúng hội thì thi một bài văn sách nữa để định cao thấp, tức là thi đình.

Trước kia nhà quốc học chỉ đặt ở kinh đô, còn trong dân gian thì việc học hành tự ý nhân dân tổ chức. Năm 1398, Quí Ly đặt quan Giáo thụ tại các châu các phủ những lộ (tỉnh) Sơn Nam (nay là Nam Định), Ninh Bắc (nay là Bắc Ninh) và Hải Đông (nay là Hải Dương), tùy theo châu phủ lớn nhỏ mà cấp học điền là 15, 12 hay 10 mẫu. Ở mỗi lộ thì có quan Đốc học dạy sinh đồ, cứ mỗi năm thì chọn những kẻ tuấn tú cống về triều để thi hạch.

Phép thi bấy giờ, trải nhiều lần cải biến nên đã tinh tường. Sang triều Lê, đại khái đều phỏng theo như thế, nhưng lại thêm điều bó buộc và trọng vẻ phù hoa.

Sau khi Lê Thái Tổ đánh được quân Minh, khôi phục độc lập, thì ngài lưu tâm sắp đặt việc học ngay. Ngài mở lại trường Quốc Tử Giám để cho con cháu các quan và các người thường dân tuấn tú vào học, và đặt lại các nhà học ở các phủ và các lộ.

Ngài lại mở khoa Minh kinh bắt các quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống phải thi kinh sử và vũ kinh: ở các lộ cũng mở khoa Minh kinh, khuyên những người ẩn dật trong buổi chiến tranh ra ứng thí để chọn nhân tài. Song đó chẳng qua là những phương sách lâm thời sau cuộc loạn, đến đời Lê Thánh Tôn mới noi theo chế độ nhà Trần mà chỉnh đốn việc học, mở rộng nhà Thái Học ở phía sau Văn Miếu, lại làm thêm phòng ốc cho các sinh viên ở học, và kho bí thư để chứa sách vở. Ngài lại định lại phép thi hương, thi hội, thi đình và đặt lệ ba năm một khoa thi. Chương trình thi hương, thì trường nhất thi năm đoạn kinh nghĩa; trường nhì thi chiếu, chế, biểu, dùng tứ lục cổ thể; trường ba thi thơ dùng luật Đường, phú dùng cổ thể và văn tao tuyển[2]; trường tư thi văn sách hỏi về kinh sử và thời vụ. Về thi hội đại khái cũng như thế. Lệ xướng danh và lệ vinh qui cũng bắt đầu từ đời ấy.

Sang triều Nguyễn, vua Gia Long nhất thống Nam Bắc rồi cũng châm chước theo chế độ nhà Lê mà định phép thi. Trải các đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, mỗi đời có sửa đổi ít nhiều[3], rốt cuộc thi hội vẫn có bốn trường, còn thi hương thì rút một còn ba trường (đời Tự Đức). Đến đời Kiến Phúc thì định thi hương quyển nào được vào hạng ưu bình phải thi thêm một kỳ phúc hạch. Bài thi thì vẫn bất ngoại kinh nghĩa, tứ lục, thơ phú và văn sách. Ở triều Lê người thi đậu hương gọi là Cử nhân, Tú tài, đến đời Hậu Lê gọi là Hương cống và Sinh đồ; đời Gia Long cũng theo danh hiệu đời trước, đến đời Minh Mệnh (năm 1825) lại đổi gọi là Cử nhân và Tú tài.

Sau khi có cuộc bảo hộ, chương trình khoa cử sửa đổi lại đôi chút và tham dụng quốc ngữ và chữ Pháp.

Cách tổ chức việc học ở triều Nguyễn đại thể cũng giống triều Lê và đời Trần mạt, ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy tứ thư ngũ kinh và bắc sử cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Tỉnh nào gặp được quan Đốc học học hạnh có tiếng thì đến các Tú tài, Cử nhân cũng theo học để dự bị đi thi hội. Nhưng nếu quan Đốc học là người tầm thường thì có khi trường công bỏ trống, mà các trường tư thì người ta theo học rất đông. Ở kinh đô thì có trường Quốc Tử Giám, các quan Tế tửu và Tư nghiệp dạy các ấm sinh dự bị đi thi hương, và các Tú tài Cử nhân dự bị đi thi hội. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ, hoặc bộ Học.

Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do, từ bực tiểu học đến đại học, nhân dân tự lo liệu lấy. Thầy học thì có từ thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bực đại khoa không xuất chính hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò. Những nhà Nho học có tiếng xưa nay như Chu Văn An đời Trần, Lê Quí Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan đời Lê, Võ Trường Toản, Nhữ Bá Siễn ở đời Nguyễn, đều là những sư nho được người thờ kính đời đời.

Việc dạy học xưa là một chức vụ tôn nghiêm, ông thầy vẫn lấy làm trịnh trọng, mà học trò cũng hết lòng tôn kính. Học trò thường thường xem thầy học như cha[4], thầy chết học trò phải để tang ba năm. Các học trò một trường thường tổ chức thành hội đồng môn, hoặc do thầy lập ra, hoặc do học trò tự lập. Thầy xem trong môn sinh ai là hiển đạt hơn, hoặc có tuổi hơn thì bầu làm Trưởng tràng để đứng đầu coi sóc môn sinh. Lại thường bầu thêm một người Giám tràng, một người Cán tràng để hiệp trợ với Trưởng tràng.

Khi thầy có việc cần thì đồng môn phải lo liệu giúp đỡ. Khi thầy hoặc vợ thầy mất thì đồng môn phải giúp đỡ thế huynh là con trưởng của thầy mà lo liệu tang lễ. Khi đưa ma thì môn sinh phải mang khăn trắng áo trắng đưa đến huyệt, rồi phải để tâm tang ba năm. Thường năm đến ngày kỵ thầy và vợ thầy, môn sinh phải đóng góp để làm lễ. Nếu nhà thầy suy đồi không ai lo tế tự thì môn sinh họp nhau ở nhà Trưởng tràng mà làm giỗ, cho đến hết đời mới thôi.

Có nơi môn sinh góp tiền làm nhà thờ thầy, tậu ruộng làm ruộng kỵ và đời đời nối dõi để giữ giỗ thầy và vợ thầy.

*

*        *

Việc học hành thì hoàn toàn tự do, đạo thầy trò thì hết sức thân mật. Theo lẽ đương nhiên thì kết quả giáo dục như thế phải mỹ mãn lắm, song thực ra thì số người biết chữ trong dân gian vẫn nhiều mà trình độ học vấn lại rất kém cỏi. Bởi đâu mà có sự tình như thế? Nguyên nhân thứ nhất là vì phương pháp giáo dục cẩu thả thô sơ. Khi mới vỡ lòng thì người ta cho trẻ học mấy quyển sách Tam tự kinh, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết và Minh tâm bảo giám, cốt cho nó thuộc lòng và có thể lặp lại như vẹt những câu cách ngôn có vần, hay những thành cú về lịch sử Trung Quốc. Nó không cần hiểu nghĩa lý sâu xa ở các sách ấy mà chỉ cần hiểu nghĩa từng chữ một, cùng là có thể đếm số chữ và đánh bằng trắc để đem câu nọ so với câu kia mà tập làm đối thôi. Xong mấy quyển sách sơ học đó thì thầy đem ngay các sách bắc sử và ngũ kinh, tứ thư đại toàn của Tống nho ra dạy, thầy thì cứ nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa nấy chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống nho, trò thì cũng nhắm mắt học cho thuộc lòng để đến khi hành văn nhớ lại mà đặt để. Suốt cả một đời học trò (có người sáu bảy mươi tuổi còn học để đi thi) chỉ học ở trong vòng bấy nhiêu sách ấy mà thôi.

Song phương pháp giáo huấn vụng về chật hẹp như thế lại do một nguyên nhân khác, là chế độ khoa cử của Triều đình dùng để lung lạc sĩ phu. Chế độ ấy từ triều Lê, bắt chước chế độ của nhà Minh nhà Thanh ở Trung Quốc, cốt xô đẩy sĩ tử trong nước vào đường cử nghiệp hư văn, để tiện lợi cho chính trị, cho nên định khoa cử là con đường xuất thân duy nhất. Triều đình lại cho những người khoa mục nhiều điều vinh diệu quá đáng, như trâm bào dọc phố, cờ biển vinh qui, cùng là khắc tên ở bia đá bảng vàng để lưu truyền hậu thế. Chỉ có sách Chu Trình thể chú là sách chính thức, sĩ tử không được lập luận trái với hai vị Tống nho ấy, mà thản hoặc trong khoa trường có ai dám bàn sai đi một chút thì gia cho cái tiếng bá đạo tà thuyết mà đánh hỏng ngay. Thể lệ khoa cử lại còn có những trường qui hà khốc, khiến người nào vô ý một chút là bị hỏng hay là mang tội. Chế độ khoa cử thế ấy thì phải sinh ra phương pháp giáo dục thế kia, là lẽ tất nhiên. Học như vậy thì học trò chỉ chăm học thuộc lòng một số ít sách kể trên, và chăm lựa lời cho khéo, gọt câu cho chỉnh, viết chữ cho tử tế, một ý tứ có thể diễn ra năm bảy cách, miễn là lời văn cho bóng bảy mà ý tứ dù là bã cặn của Tống nho cũng không can gì. Cái thói trọng từ chương, ưa hư văn đã thành một thứ nhiên tính của dân tộc ta. Với cách giáo dục ấy thì dù người thiên tư lỗi lạc cũng phải nhụt đi, huống gì những người tư chất tầm thường, thực là một thứ giáo dục giết chết nhân cách vậy.

 

*

*        *

 

Ngày nay Chính phủ thuộc địa đã cải cách việc học. Ở Nam Việt ngay sau khi thành nhượng địa thì Chính phủ đã bãi khoa thi và các trường học chữ Hán, mà đặt chế độ học đường Pháp Việt. Ở Bắc Việt và Trung Việt thì cải cách chậm hơn, đến năm 1908 mới có Hội đồng cải cách học vụ sửa lại chương trình việc học gồm có ba bực:

1) Bực ấu học do các xã thôn phải lập trường và mời thầy dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ, tốt nghiệp thì thi tuyển sinh. Ở tỉnh lỵ có một trường ấu học công để làm qui thức cho các trường xã thôn.

2) Bực tiểu học dạy các tuyển sinh, tức là các trường giáo huấn ở các phủ huyện, dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ; nếu có học trò tình nguyện học chữ Pháp thì đặt thầy riêng. Về chương trình Hán học thì ngoài ngũ kinh tứ thư và bắc sử, thì nay có dạy cả nam sử, mà bỏ các lối câu đối thơ phú và văn bát cổ không dùng nữa. Tốt nghiệp bực tiểu học, các tuyển sinh phải thi khóa sinh ở tỉnh lỵ.

3) Bực trung học dạy các khóa sinh tức là các trường đốc học ở tỉnh lỵ, việc dạy chữ Hán do quan Đốc học chưởng giáo, còn dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp thì do các giáo viên trường Pháp Việt kiêm nhiệm. Cứ ba năm có một kỳ hạch, trước kỳ thi hương vài ba tháng, khóa sinh trúng cách gọi là thí sinh, được dự thi hương.

Chương trình thi hương theo cuộc cải cách này có cả chữ quốc ngữ và chữ Pháp; đề mục thì hỏi về kinh truyện, bắc sử, nam sử, văn chương, cùng là địa dư, chính trị và pháp luật Đông Dương. Đến năm 1908 lại đặt bộ Hộ và bổ nghị về phép thi như sau này: trường nhất thi năm đạo văn sách (hỏi về văn chương, luân lý, nam bắc sử, Đông Dương chính trị, hình luật); trường nhì thi hai bài luận chữ Hán; trường ba thi ba bài luận quốc ngữ và một bài tình nguyện thi Pháp văn dịch ra quốc ngữ; trường tư là phúc hạch, thi một bài luận chữ Hán và một bài luận quốc ngữ.

Chương trình thi hội và thi đình cũng sửa lại cho hợp với những chương trình học mới.

Ở Huế, trường   vẫn có như trước, song có đặt thêm trường Hậu bổ để đào tạo những quan viên chính ban và giáo ban, và trường Quốc học để chuyên dạy chữ Pháp. Ở Hà Nội cũng có trường Sĩ hoạn và trường Bảo hộ như các trường Hậu bổ và Quốc học ở Huế.

Ở các tỉnh lỵ và các huyện lại có trường Pháp Việt để dạy các trẻ con không muốn theo chương trình Hán học. Học sinh tốt nghiệp ở các trường Pháp – Việt tỉnh lỵ được vào học ở các trường Quốc học hay Bảo hộ.

Năm 1915 và 1918, Bắc Việt và Trung Việt cũng theo Nam Việt mà bỏ hẳn phép học cũ và chế độ khoa cử để toàn dùng chế độ Pháp Việt giáo dục, theo bộ học qui ban hành ngày 21 tháng 12 năm 1917, và do nha Học chánh Đông Dương giám đốc. Từ đó đến nay, chương trình học trải qua nhiều lần thay đổi. Cứ theo hiện tình thì việc học trong ba xứ Trung, Bắc, Nam Việt đại khái như sau này:

Tiểu học – Tiểu học hiện nay chia ra ba bực: Bực sơ học yếu lược dạy toàn quốc ngữ quốc văn, xong hạn học ba năm có thi bằng Sơ học yếu lược. Phần nhiều các trường xã thôn cùng trường liên xã dạy về bực ấy.

Trên bực ấy có bực tiểu học dạy ở các trường ở phủ huyện lớn và ở tỉnh lỵ, dạy nhiều Pháp văn và một ít quốc văn. Xong hạn học ba năm, học sinh thi Tiểu học tốt nghiệp để vào học ở bực trên là bực Cao đẳng tiểu học.

Hai bực trên ấy chỉ cốt dạy cho trẻ con từ 7 đến 13, 14 tuổi những điều thường thức về văn Pháp, lịch sử, địa dư, cách trí và toán học. Đến bực Cao đẳng tiểu học, hạn học 4 năm, đặt ở các thủ phủ ba xứ và ở các tỉnh lỵ lớn, cũng tiếp theo chương trình bực trước mà theo trình độ cao hơn. Tuy các món học toàn bằng Pháp văn, nhưng có dạy thêm quốc văn, Việt Nam văn học, Việt Nam văn hóa cốt cho học sinh hấp thụ được những trí thức thông thường về xã hội và thế giới mới, mà cũng hiểu biết qua loa lịch sử và văn hóa xưa của nước nhà.

Trung học – Sau bực Cao đẳng tiểu học thì có bực Trung học, hạn học ba năm, dựa theo chương trình ba lớp sau cùng của bực trung học nước Pháp, song có học Việt ngữ và triết học Trung Quốc để thay vào các món ngoại ngữ và cổ điển học Hy Lạp La Mã. Hiện nay chỉ ở Sài Gòn, Hà Nội và Huế mới có trường Trung học.

Công nghệ học – Ở thủ phủ ba xứ và các thành thị lớn có những trường công nghệ thực hành. Mục đích các trường ấy là đào tạo những thợ thuyền làm việc theo công nghệ cơ khí của người Tây. Song vì công nghệ trong nước không phát đạt, trình độ kinh tế trong nước còn kém hèn, cho nên số học trò theo học nhánh này đương ít lắm.

Ở Hà Nội có một trường Cao đẳng mỹ thuật gần đây đã tạo thành được ít nhiều nghệ sĩ, nhất là về môn hội họa và môn điêu khắc.

Đại học – Đại học viện ở Hà Nội thành lập từ năm 1919 (trường Y học thành lập hơn ba mươi năm rồi), buổi đầu chỉ có các trường cao đẳng chuyên môn để đào tạo một hạng người chuyên môn giúp việc cho người Pháp ở các công sở mà thôi. Gần đây hai trường Y học và Dược học đổi thành ban Y khoa và Dược khoa đại học, rồi trường Đông Dương cao đẳng học hiệu cũng đổi thành ban Luật khoa đại học, còn các trường cao đẳng chuyên môn khác về sư phạm, công chính, canh nông, thương mãi đều bãi cả. Từ năm 1938, lại mở lại trường Nông lâm và trường Công chính, lấy học sinh tốt nghiệp trung học vào học. Thế là ngày nay bực đại học mới ở nước ta đã có cơ sở, hẳn rằng trong ít lâu Đại học viện sẽ có đủ các ban.

Tư học – Ngoài việc giáo dục của Nhà nước tổ chức, nhân dân có thể lập trường tư thục, nhưng phải tuân theo chương trình và kỷ luật của Nhà nước thiết định. Hiện nay các trường tư đã có từ bực sơ học, đến bực trung học song so với sự nghiệp công học, nhất là so với sự nghiệp tư học đời xưa thì thấy rằng việc tư học ngày nay còn đương chật hẹp lắm.

Thể dục – Nước ta ngày xưa không trọng thể dục cho nên võ nghệ chỉ có những người chuyên binh nghiệp luyện tập mà thôi. Các triều vua xưa có lập trường giảng võ và đặt các khoa thi võ, song chỉ cốt đào tạo và kén chọn những người dõng mãnh để dùng về quân sự thôi. Không rõ cách tổ chức trường giảng võ và thi võ ở các triều trước thế nào, duy triều Nguyễn thì không có trường dạy võ mà chỉ có trường thi thôi. Đời Minh Mệnh lần lượt mở trường thi võ ở Thừa Thiên, Hà Nội và Thanh Hóa, đến đời Thiệu Trị thì định các năm tí, ngọ, mão, dậu thì mở khoa võ hương thí; năm thìn, tuất, sửu, mùi thì mở khoa võ hội thí.

Chương trình thi hương thì chia ra ba kỳ: kỳ thứ nhất thi xách tạ; kỳ thứ hai thi múa côn thương; kỳ thứ ba thi bắn súng hiệp. Quán cả ba kỳ, ai vào hạng ưu bình thì được lấy đậu võ cử nhân; vào hạng nhì được lấy đậu võ tú tài. Kỳ phúc hạch chỉ hỏi vài câu võ kinh, tùy văn lý mà chia thứ tự trên dưới.

Phép thi hội cũng như phép thi hương, duy mỗi kỳ điều kiện có nặng hơn thi hương một chút. Thi trúng đủ ba kỳ thì được vào hạng trúng cách. Người nào biết chữ thì được dự đình thí. Kỳ này hỏi một vài bài đại nghĩa về võ kinh, một vài điều yếu lược về binh pháp của các bực danh tướng lịch triều, và một vài điều thời sự. Ai đủ số phân điểm thì lấy đậu võ tiến sĩ, còn người chỉ đậu hội thí thì vào hạng võ phó bảng.

Những cách luyện võ thường dùng ở nước ta, đại khái là: 1) Tập xách nặng, dùng hòn đá hay quả tạ; 2) Tập đu rút mình và lộn nhào (giống cách tập trapèze của Tây); 3) Luyện chân tay, dùng thúng thóc và cây chuối để xỉa bàn tay vào, và dùng cây chuối để đá cho đến khi có thể đá vào tường gạch được; 4) Tập nhảy, bỏ cát vào hai ống quần mà nhảy; 5) Tập quyền thảo là phép đánh bằng tay chân; 6) Tập côn, roi, thương, đại đao, v.v.

Mỗi phép có một bài dạy, có trình tự phân minh. Thầy dạy thường đánh mõ làm hiệu để học trò theo tiếng mõ mà đi bài.

Ngày xưa văn võ thành hai đường cách biệt, những người văn học thì khinh võ nghệ mà không tập luyện, cho nên thường có dáng yếu đuối xanh xao, còn người chuyên võ nghệ thì không cần học văn, phần nhiều là người dốt đặc, nên người võ nghệ thường bị người văn học khinh bỉ.

Ngày nay thể dục đã thành một khoa có địa vị xứng đáng trong chương trình giáo dục, học trò tập văn xong thì phải tập võ. Ở các thành thị cùng nhiều nơi thôn quê, ta thấy lập nhiều hội thể thao, từ thợ thuyền, học trò cho đến quan viên cũng hăng hái với thể dục, chứ người ta không có não kỳ thị như xưa nữa.

Gia đình giáo dục – Gia đình là nền tảng của xã hội, cho nên sự giáo dục con cái ở trong gia đình là một điều rất quan trọng. Song sự giáo dục ấy không phải là giáo dục truyền thụ như ở nhà trường, mà chỉ là một thứ giáo dục kinh nghiệm. Ở trong gia đình, những điều đứa trẻ trông thấy nghe thấy hằng ngày dần dần tạo thành cho nó những tính tình, tập quán, tín ngưỡng và tư tưởng. Nó không cần ai dạy bảo mà dần dần biết những nghĩa vụ của nó đối với cha mẹ, anh em, họ hàng, cùng tổ tiên; nó chỉ nhờ kinh nghiệm mà biết rằng cái đạo tôn nghiêm nhất của con cái ở trong gia đình là đạo hiếu. Theo luân lý Nho giáo của nước ta thì hiếu là “đứng đầu trăm nết”, tức là cái nghĩa vụ chủ yếu của người ta. Đối với bản thân ta thì đạo hiếu khiến ta phải sửa mình và giữ gìn thân thể, trau dồi tâm hồn để thờ cha mẹ tổ tiên; đối với người ngoài, với người trên kẻ dưới, ta phải có đức trung thứ; cũng là ở trong phạm vi đạo hiếu cả. Đạo hiếu ấy, phụ huynh cũng thường đem khuyên dạy con em, nhưng phần nhiều là do kinh nghiệm hằng ngày, do những điều nó tai nghe mắt thấy ở xung quanh mà tạo thành cho nó một cái quan niệm về gia đình luân lý. Đến khi nó lớn, vào trường học thì những điều thầy dạy, những sách học đều bồi đắp thêm cho nền luân lý tôn pháp ấy, mà suy rộng ra đến nghĩa vụ của người ta đối với nước với vua. Câu tục ngữ “Tiên học lễ hậu học văn” đủ biểu minh cái tinh thần của phép giáo dục trọng luân lý ấy.

Sự giáo dục ở gia đình đối với con trai và con gái đều có công dụng như nhau, song ngay từ khi nhỏ nó cũng đã cảm thấy cái thói trọng nam khinh nữ, như con trai thì được rong chơi hay đi học, mà con gái thì phải giữ em hay giúp mẹ làm việc nhà; con trai thì được giúp đỡ cha mẹ trong việc tế tự gia tiên, mà con gái thì chỉ phải nấu nướng ở trong xó bếp.

Những nhà nho nghiệp lại thường đem những sách Gia huấn nữ tắc[5] để dạy con em. Những sách ấy phần nhiều viết bằng quốc văn có vần cho con trẻ dễ nhớ, đại khái đối với con trai thì dạy những nghĩa vụ với cha mẹ, họ hàng, làng nước và đạo kính thầy trung vua, đối với con gái thì dạy tứ đức, nghĩa là dáng dấp đứng ngồi và cử chỉ phải thế nào (dung), nói năng thưa gởi phải thế nào (ngôn), công việc thêu dệt nấu nướng phải thế nào (công), nết na phải nhường nhịn nhu mì thế nào (hạnh) và tam tòng, nghĩa là nhỏ phải nghe cha thế nào, lớn phải thờ chồng thế nào, chồng chết phải theo con thế nào.

Ngày nay phong tục đã ít nhiều đổi mới, chế độ gia đình xưa đã giảm bớt ít nhiều thế lực, cho nên sự giáo dục trong gia đình cũng đã theo thời thế mà biến di. Ở các gia đình tân tiến ngày nay, cha mẹ đã biết cẩn thận việc giáo dục trẻ con, và biết trọng cá tính của nó, chứ không theo cái lối hy sinh cá nhân cho gia đình như trước nữa.

[1]. Khi ba tuổi, mẹ đem cho nhà sư ở chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn làm con nuôi.

 

[2]. Tao là một thể vận văn cổ của Khuất Nguyên đời Chiến Quốc đặt ra, tuyển là một thể vận văn ở đời Lục Triều.

 

[3]. Đời Tự Đức thi hội bốn trường, thi hương chỉ có ba trường; đến đời Kiến Phúc thì định thi hương quyển nào được vào hạng ưu bình phải thi thêm kỳ phúc hạch.

 

[4]. Luân lý Khổng giáo để thầy học trên cha, chỉ ở dưới vua thôi (quân sư phụ).

 

[5]. Gia huấn ca của Nguyễn Trãi; Nữ tắc diễn nôm có một bản của Trương Vĩnh Ký dịch.

Advertisements

Published by

npv

Một con sông sắp cạn dòng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s