Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

IMG_5094

Dưới đây là lời giới thiệu do Giáo sư Alvin Roth viết riêng cho độc giả Việt Nam nhân dịp cuốn sách về công trình đoạt giải Nobel của ông được xuất bản ở Việt Nam. (Cuốn sách Ai được gì và tại sao (Who gets what and why), Đặng Xuân Tùng dịch.)

LỜI NÓI ĐẦU CHO BẢN TIẾNG VIỆT

Việc dịch một cuốn sách về thị trường từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một cơ hội để ghi nhớ rằng thị trường, giống như ngôn ngữ, là tạo tác cổ xưa của con người. Cả thị trường lẫn ngôn ngữ đều là những công cụ do loài người cùng nhau tạo ra để giúp chúng ta phối hợp với nhau, và do vậy chúng ta không ngừng cập nhật chúng để đáp ứng được những yêu cầu hiện đại.

Giống như việc có các ngôn ngữ khác, cũng có những kiểu thị trường khác nhau, và có những cách khác nhau để tổ chức chúng. Thị trường hàng hóa là thị trường mà trong đó giá cả quyết định việc ai sẽ được cái gì, và các thành phần tham gia thị trường có thể giao dịch với nhau mà không cần phải xưng danh. Nhưng nhiều thị trường liên quan đến các mối quan hệ, và trong những thị trường này bạn quan tâm đến việc mình sẽ giao dịch với ai, và ai sẽ được cái gì không được quyết định chỉ bởi giá cả.

Thị trường ghép đôi là thị trường mà trong đó bạn không thể chỉ lựa chọn thứ bạn muốn, mà bạn còn phải được chọn nữa. Giá cả mình nó không làm tất cả mọi việc trong thị trường ghép đôi, và thỉnh thoảng chúng ta không để giá cả đóng bất cứ vai trò nào. Việc ghép đôi ở dạng này hay dạng khác sẽ quyết định ai sẽ tới trường trung học hay trường đại học nào, ai sẽ nhận được việc làm nào, và ai sẽ cưới ai, và đôi khi là ai sẽ được nhận một loại chăm sóc y tế cụ thể nào đó, như việc cấy ghép tạng chẳng hạn. Continue reading Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

Advertisements

Giải Nobel Vật Lý 2017 – Trích Các thế giới song song

DSC06403Năm nay giải Nobel Vật Lý được trao cho ba nhà vật lý đã có công xây dựng và vận hành trạm LIGO, là nơi đã dò tìm được sóng hấp dẫn. Dưới đây là trích đoạn nói về LIGO từ cuốn sách Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku.

Chính Einstein, vào năm 1916, là người đầu tiên đề xuất sự tồn tại của các sóng hấp dẫn. Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu Mặt Trời biến mất. Bạn còn nhớ ví dụ một quả bóng bowling lún vào tấm đệm chứ? Hay tốt hơn là một giàn nhún nhỉ? Nếu quả bóng đột nhiên bị lấy đi, giàn nhún sẽ ngay lập tức bật ngược trở lại vị trí ban đầu, tạo ra các sóng xung kích khẽ lan truyền ra phía ngoài dọc theo giàn nhún. Nếu quả bóng bowling được thay thế bằng Mặt Trời, thì chúng ta thấy rằng các sóng xung kích của hấp dẫn di chuyển theo một tốc độ cụ thể, là tốc độ ánh sáng.

Mặc dù sau đó Einstein đã tìm thấy một lời giải chính xác cho các phương trình của mình với sự có mặt của các sóng hấp dẫn, nhưng ông đã mất hết hy vọng trong đời được thấy dự đoán của mình được xác nhận. Các sóng hấp dẫn rất yếu. Ngay cả các sóng xung kích của các ngôi sao đang va chạm cũng không đủ mạnh để có thể đo đạc bằng các thực nghiệm hiện tại.

Hiện nay, các sóng hấp dẫn chỉ được phát hiện một cách gián tiếp. Hai nhà vật lý Russell Hulse và Joseph Taylor Jr. đã phỏng đoán rằng nếu phân tích các sao nơtron đôi đang xoay tròn và rượt đuổi nhau trong không gian, thì mỗi ngôi sao sẽ phát ra một luồng sóng hấp dẫn khi quỹ đạo của chúng từ từ suy sụp, tương tự như các vệt lằn được tạo ra khi ta khuấy mật đường. Họ đã phân tích đường xoắn ốc chết chóc của hai ngôi sao nơtron khi chúng từ từ quay xoắn lại với nhau. Đối tượng khảo sát của họ là sao nơtron đôi PSR 1913+16, nằm cách Trái Đất khoảng 16.000 năm ánh sáng, quay quanh nhau với chu kỳ 7 giờ 45 phút, và phát xạ các sóng hấp dẫn vào khoảng không vũ trụ.

Sử dụng thuyết của Einstein, họ thấy rằng hai ngôi sao sẽ nhích lại gần nhau một milimét sau mỗi vòng quay. Mặc dù đây là một khoảng cách vô cùng nhỏ, nhưng sau một năm nó tăng lên một yard (0,91 mét), khi quỹ đạo 435.000 dặm (700 km) từ từ thu nhỏ lại. Công trình tiên phong của họ đã chỉ ra rằng quỹ đạo hai ngôi sao suy sụp chính xác như thuyết của Einstein đã dự đoán trên cơ sở của sóng hấp dẫn. (Trên thực tế, các phương trình Einstein dự đoán rằng các ngôi sao cuối cùng sẽ lao vào nhau trong vòng 240 triệu năm, do mất đi năng lượng đã bức xạ vào không gian dưới dạng các sóng hấp dẫn.) Với công trình này, họ đã giành giải Nobel vật lý vào năm 1993.*

Continue reading Giải Nobel Vật Lý 2017 – Trích Các thế giới song song

Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

DSC06403Vera Rubin, nhà thiên văn học nữ hiếm hoi trong lịch sử, qua đời ngày 25 tháng 12 vừa qua. Trong những năm 1970, Vera Rubin và đồng nghiệp đã quan sát thiên hà Andromeda và xác nhận sự tồn tại của vật chất tối (dark matter) trong vũ trụ, một ý tưởng được Friz Zwicky ở Caltech đưa ra năm 1933. 

Vera Rubin hiểu hơn ai hết sự phân biệt giới trong khoa học, đặc biệt là thiên văn học, một lĩnh vực do nam giới thống trị hàng ngàn năm. No room for woman. Nhiều nhà vật lý đương đại cho rằng ủy ban Nobel bỏ quên Vera Rubin là việc rất đáng trách. 

Dưới đây là “Omega và Vật chất tối” trích từ Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku (Nhã Nam, NXB Thế Giới, 2015).

OMEGA VÀ VẬT CHẤT TỐI

Câu chuyện về vật chất tối có lẽ là một trong những chương kỳ lạ nhất trong vũ trụ học. Trở lại thập niên 1930, nhà thiên văn người Thụy Sĩ không theo một khuôn phép nào là Fritz Zwicky của Cal Tech nhận thấy rằng các thiên hà trong quần thiên hà Tóc Tiên (Coma) không di chuyển chính xác theo học thuyết hấp dẫn của Newton. Ông thấy các thiên hà này di chuyển nhanh tới mức lẽ ra chúng phải bay tứ tán và đám thiên hà này phải tan rã, nếu tuân theo các định luật Newton về chuyển động. Ông nghĩ rằng cách duy nhất mà quần thiên hà Tóc Tiên có thể được giữ lại với nhau, thay vì bay tứ tán ra ngoài, là cụm này phải có lượng vật chất nhiều hơn hàng trăm lần so với lượng vật chất có thể nhìn thấy được bằng kính thiên văn. Hoặc là các định luật Newton vì lý do nào đó đã không còn đúng ở các khoảng cách tầm thiên hà hoặc đã có một lượng rất lớn vật chất vô hình bị bỏ sót trong quần thiên hà Tóc Tiên đã giữ nó lại cùng nhau.

Điều này là dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử rằng có một cái gì đó hết sức không ổn liên quan tới sự phân bố của vật chất trong vũ trụ. Điều không may là các nhà thiên văn đã đồng loạt từ chối hoặc bỏ qua công trình tiên phong này của Zwicky, vì vài lý do.

Trước hết, các nhà thiên văn khó có thể chấp nhận rằng thuyết hấp dẫn của Newton, vốn đã thống trị vật lý trong vài thế kỷ, lại có thể không đúng. Có một tiền lệ để xử lý các khủng hoảng giống như vậy trong thiên văn học. Khi quỹ đạo của sao Thiên Vương được phân tích trong thế kỷ 19, người ta thấy rằng nó bị lắc lư – bị lệch một lượng nhỏ so với các phương trình của Isaac Newton. Vì vậy, hoặc là Newton sai, hoặc phải có một hành tinh mới mà lực hấp dẫn của nó đã lôi kéo sao Thiên Vương. Hóa ra điều thứ hai là đúng, và sao Hải Vương được tìm thấy ngay từ nỗ lực đầu tiên vào năm 1846 bằng việc phân tích vị trí dự đoán của nó theo các định luật Newton.

Thứ hai, có vấn đề liên quan đến tính cách của Zwicky và đến việc các nhà thiên văn đã đối xử với những “kẻ ngoại đạo” như thế nào. Zwicky là một người nhìn xa trông rộng nhưng thường hay bị chế giễu hay bị bỏ qua trong suốt cuộc đời. Năm 1933, cùng với Walter Baade, ông đã đặt ra từ “supernova” (“sao siêu mới”) và dự đoán đúng rằng một sao nơtron nhỏ, kích thước khoảng 14 dặm (22,5 km), sẽ là tàn tích cuối cùng của một ngôi sao nổ tung. Ý tưởng này kỳ dị tới mức nó đã bị đả kích trong một bức tranh biếm họa trên nhật báo Los Angeles Times vào ngày 19 tháng 1 năm 1934. Zwicky tức giận một nhóm nhỏ các nhà thiên văn thượng lưu, những kẻ mà ông nghĩ rằng đã ra sức không công nhận ông, đã ăn cắp các ý tưởng của ông và không cho ông làm việc trên các kính viễn vọng 100 và 200 inch (2,5 m và 5 m). (Ngay trước khi ông qua đời vào năm 1974, Zwicky tự xuất bản một danh lục liệt kê các thiên hà. Danh lục này mở đầu với tiêu đề: “Một lời nhắc nhở với các Tu sĩ Cao cấp của Thiên văn học Mỹ và những kẻ nịnh hót họ.” Bài tiểu luận này đã đưa ra lời phê phán nghiêm khắc bản chất bè phái, hẹp hòi của tầng lớp thượng lưu trong giới thiên văn học, những kẻ có xu hướng loại trừ những người không tuân theo khuôn phép như ông. “Ngày nay những kẻ nịnh hót và những kẻ trộm cắp rõ ràng dường như được tự do, trong hội Thiên văn học Mỹ nói riêng, chiếm đoạt các khám phá và các sáng kiến do những con sói cô độc và những kẻ không theo lề thói tạo ra,”* ông đã viết như vậy. Ông còn gọi các cá nhân này là “những kẻ chết tiệt béo tròn,” bởi vì “chúng là những kẻ chết tiệt theo bất kỳ cách nào bạn nhìn chúng.” Ông còn điên tiết vì đã bị gạt ra khi giải Nobel được trao cho người khác do thành tích phát hiện ra sao nơtron.*)

Continue reading Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

Thay đổi tư duy trong bán lẻ (Triết lý kinh doanh của tập đoàn 7-Eleven)

DSC06294Thay đổi tư duy trong bán lẻ (dịch từ nguyên tác tiếng Nhật: 変わる力セブン-イレブン的思考法) là cuốn sách đúc kết kinh nghiệm kinh doanh của một doanh nhân được kính trọng bậc nhất ở nhật bản: Toshifumi Suzuki – ông chủ của tập đoàn bán lẻ 7-Eleven ở Nhật.

Cuốn sách đượm chất hồi ký này của ông chủ Suzuki không chỉ kể về lịch sử hình thành tập đoàn 7-Eleven ở Nhật mà còn đúc kết tư duy và kỹ thuật kinh doanh thành công của tập đoàn.

7-Eleven du nhập từ Mỹ vào Nhật như một sáng kiến nhỏ nhưng táo bạo của Suzuki, lúc đó còn là nhân viên cấp trung của một tập đoàn lớn. Vạn sự khởi đầu nan, vượt qua bao năm tháng biến động của cả kinh tế lẫn thiên tai, 7-Eleven ở Nhật đã vươn mình trở thành một siêu tập đoàn, sở hữu rất nhiều chuỗi giá trị liên hoàn, bao gồm cả một ngân hàng bán lẻ, đủ sức quay lại Mỹ thôn tính công ty mẹ và bành trướng ra thêm nhiều nước trên thế giới.

Cuốn sách là đúc kết triết lý kinh doanh của ông chủ tập đoàn bán lẻ lớn của Nhật Bản nhưng cũng là câu chuyện kể về cuộc đời ông, kể từ ngày đầu đi làm cho tới khi tạo lên một “đế chế bán lẻ”.

Continue reading Thay đổi tư duy trong bán lẻ (Triết lý kinh doanh của tập đoàn 7-Eleven)

Về tác giả của Chuyện phiếm sử học

DSC06183

Giới sử gia trong và ngoài nước đều nhìn nhận Tạ Chí Đại Trường là sử gia có hiểu biết sâu sắc và phương pháp độc đáo – những phẩm chất khiến ông có vị trí đặc biệt trong lĩnh vực này. Cách ông áp dụng những hiểu biết thấu đáo của mình trong nhiều lĩnh vực, từ nhân học đến cổ tiền học, vào việc nghiên cứu sử, cộng với niềm hứng thú tìm hiểu tác động của văn hóa tới các biến động lịch sử, đã tạo ra sự lôi cuốn độc nhất vô nhị trong các công trình của ông.

Wynn Gadkar-Wilcox.
Giáo sư, Western Connecticut State University

*

Tạ Chí Đại Trường, theo cá nhân tôi, là sử gia Việt Nam có tầm vóc của thời hiện đại. Trong khi rất nhiều sử gia tài năng khác đã tạo ra các cách hiểu lịch sử Việt Nam khá rõ ràng, Tạ Chí Đai Trường luôn đi xa hơn thế nhiều để phác họa lịch sử với bao sự phức tạp và tính đa chiều. Ông viết sử với sự tinh tế tột bậc.

Liam C. Kelly
Giáo sư
University of Hawaii at Manoa

[Trích] Thế giới khác đi nhờ có bạn

DSC05407Trong cuốn sách “Thế giới khác đi nhờ có bạn”, Lý Khai Phục có kể lại việc Apple tuyển dụng ông, lúc đó đang làm nghiên cứu khoa học ở trường đại học. Trong thời gian làm việc ở Apple, Lý Khai Phục đã đúc kết được rất nhiều suy nghĩ, bài học vừa bổ ích lại không kém phần thú vị. Những điều ấy được ông kể lại khá dí dỏm trong cuốn sách của mình thế này.

“Steve Jobs là người có tư tưởng không giống ai, vừa quật cường vừa sắc bén, một mình một lối, ngông cuồng kiêu ngạo. Ông có thể nói với người mà ông xem thường: ‘Nài, mày là bozo (thằng ngu)!’ Lúc đó Steve Jobs căn bản không coi Microsoft ra gì.”

“Các kỹ sư của Apple đều thuộc dạng khó kiểm soát. Họ từng đặt tên một sản phẩm của dự án là Carl Sagan, tên một nhà thiên văn học nổi tiếng, Carl Sagan kiện Apple xâm phạm quyền đặt tên. Thế là, các kỹ sư đổi tên sản phẩm thành BHA, nghĩa là Nhà thiên văn học lỗ đít (Butt-hole astronomer).”

“Thời kỳ đầu công ty mới thành lập, Steve Jobs từng treo trên nóc nhà một lá cờ hải tặc khổng lồ, như muốn tuyên bố với mọi người: Tôi hoàn toàn chẳng giống ai! Steve Jobs còn để trong căn phòng ‘hải tặc’ của ông một cây đàn piano Bösendorfer và một cặp loa 10 ngàn đô la. Đôi khi, Steve bất ngờ diễn tấu một khúc nhạc đầy cảm hứng cho toàn thể nhân viên, khiến niềm đam mê cháy rực khắp căn phòng lớn.”

“Tôi coi mình là cầu nối giữa nhân viên và tầng lớp lãnh đạo của công ty. Đầu tiên phải hiểu được quan điểm chiến lược của cấp trên, sau đó truyền đạt cho nhân viên. Tôi giảm bớt sự hiếu kỳ của mình, kiềm chế ý muốn hỏi han từng việc nhỏ, tin tưởng nhân viên, cho nhân viên tự do trong phạm vi nhất định. Tôi tin rằng, đây mới là nghệ thuật quản lý chân chính. Hơn nữa, là một người quản lý, khi giá trị quan của nhân viên không phù hợp với công ty, bạn phải mạnh dạn ra quyết sách.”

*

“Thứ quý giá nhất mà bạn đem theo được khi rời khỏi trường, không phải là luận án, mà là năng lực phân tích và tư duy độc lập, kinh nghiệm nghiên cứu và phát hiện chân lý, cả tầm nhìn và hoài bão của một nhà khoa học nữa. Một ngày nào đó khi bạn không còn nghiên cứu lĩnh vực này nữa, bạn vẫn có thể làm đến mức độ tốt nhất ở bất kỳ lĩnh vực mới nào.”

“Người chỉ biết nghĩ mà không biết biểu đạt thì chẳng khác nào người không biết nghĩ.”

“Đừng mù quáng theo chân người khác, đừng để bị tín điều mê hoặc, chỉ có trái tim của bạn mới biết rõ bạn thực sự muốn trở thành người như thế nào, chỉ có bạn mới có thể tìm thấy giá trị của bản thân.”

“Nắm bắt lấy cơ hội tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, thể nào cũng có một ngày, thế giới sẽ khác đi nhờ có bạn.”

*


“Biết cái gì là make a difference (làm cho khác biệt) không? Hãy tưởng tượng ra hai thế giới, một thế giới có bạn và một thế giới không có bạn, rồi so sánh hai thế giới đó với nhau, khiến cho sự khác biệt giữa hai thế giới này trở nên lớn nhất có thể, làm cho ảnh hưởng từ sự tồn tại của mình trở nên lớn nhất có thể. Đây chính là ý nghĩa của cuộc đời bạn.”

“Hãy để ước mơ và lý tưởng của bạn dẫn dắt cuộc đời bạn,

“Đừng để bị tín điều mê hoặc.
Mù quáng trước tín điều chính là sống trong kết quả suy nghĩ của người khác.
Đừng để ý kiến của bất kỳ ai lấp đi tiếng nói trái tim bạn.
Quan trọng nhất là phải đồng hành cùng dũng khí của trực giác và con tim.
Trực giác và con tim bạn ít nhiều gì cũng đã biết bạn thật sự muốn trở thành người như thế nào.
Tất cả những chuyện khác đều là thứ yếu.”

“Chỉ có lắng nghe tiếng nói từ trái tim mình, mới có thể thật sự “từ bỏ”, mới có thể khiến mình dốc sức lao về phía trước, đạt đến “thế giới lý tưởng” trong chính tâm hồn mình.”

[Trích] Chấm dứt thời đại Trung Quốc giá rẻ và hàng nhái

19399371_1529832427060763_6797799640301014882_nĐoạn trích từ cuốn “Chấm dứt thời đại Trung quốc giá rẻ” dưới đây nói về hai cuộc gặp gỡ của tác giả với cùng một cô gái – một nhân viên phục vụ bàn nhút nhát, sau đó đã trở thành một doanh nhân năng động. Trường hợp của cô gái có thể coi là một điển hình cho sự thay đổi của Trung Quốc sau một thập niên mở cửa và phát triển.

“Amy là một phục vụ bàn. Cô nhỏ nhắn, với mái tóc đen cắt ngắn và thái độ rụt rè, e thẹn, như thể chỉ cần nói chuyện với cô là cô sẽ bỏ chạy. Cô rõ ràng là mẫu người được dạy phải ít gây chú ý và sống lẫn vào đám đông trong phần lớn cuộc đời.

Cô có vẻ thay đổi rất ít qua năm tháng. Lần cuối khi tôi rời hẳn Thiên Tân vào năm 2001, tôi đã nói lời tạm biệt với cô và nhận lại một nụ cười ngắn ngủi, và không nghĩ gì tới cô nữa.

Gần một thập niên sau, tôi trở lại Thiên Tân trong một chuyến công tác.

Vào lúc tôi đi loanh quanh, tôi nghe có người gọi tên mình. Tôi quay lại và bỗng nhiên có người ôm chầm lấy tôi.

Lúc đầu, tôi không nhận ra người phụ nữ ở cuối tuổi hai mươi đang ôm mình. Tôi nhìn kỹ hơn và nhận ra đó là Amy. Thay cho cô gái giản dị, bẽn lẽn mà tôi nhớ là một phụ nữ trẻ rạng rỡ, đầy tự tin, dùng mỹ phẩm đắt tiền, mang một chiếc túi hàng hiệu, và để kiểu tóc rõ ràng là làm ở tiệm. Giờ trước mặt tôi là một nữ doanh nhân tươi trẻ và đầy tự tin.

“Cuộc đời thật đẹp,” Amy nói, cười tươi tắn. Kể từ lần cuối tôi gặp cô, cô đã bỏ nghề bồi bàn và làm rất nhiều việc ở vài công ty đa quốc gia tràn ngập thành phố và hiện đang nghĩ tới việc mở công ty của riêng cô. “Giờ đã tới lúc trở thành doanh nhân, hoặc sẽ chẳng bao giờ” cô nói. “Em không biết mình sẽ làm gì, nhưng em sẽ làm gì đó.”

Continue reading [Trích] Chấm dứt thời đại Trung Quốc giá rẻ và hàng nhái