Bảo tàng Khải Định

Bảo tàng Khải Định

Tòa điện: Nguồn gốc và lịch sử

Tác giả: ALBERT SALLET

Dịch giả: Bảo Chân

Sau khi tốt nghiệp trường Y tế Hàng hải và trường Thuộc địa Bordeaux vào tháng Mười hai năm 1902, bác sĩ Albert Sallet nhập ngũ và được gửi tới Đông Dương. Ngay năm đầu tiên ở Hà Nội ông đã tham gia một công việc gắn bó nhiều với người bản xứ: đội lưu động tiêm vắc xin chủng đậu. Đến năm 1906 ông chuyển vào Trung tâm cấp cứu Đà Nẵng. Ở đây ông làm quen và kết hôn với người bạn đời của mình, cô Amelie Morin, con gái gia đình chủ khách sạn Morin, nhà tài trợ tương lai của hội Những người bạn Cố đô Huế.

Thời kỳ ở Đà Nẵng ông có công lao lớn trong việc kiểm soát sự lây lan của bệnh dịch hạch và được thưởng huân chương. Ông tham gia phát hiện nền văn minh Chàm trong thời gian làm bác sĩ rồi làm Giám đốc Y tế Bệnh Viện Phan Thiết.  Ông đắm mình vào nghiên cứu ngôn ngữ, và kiến thức y học cũng như tập quán của người Chàm. Đến năm 1925 ông xin nghỉ việc để tập trung vào nghiên cứu. Là một bác sĩ được đào tạo với kiến thức của thế kỷ 19, Albert Sallet có nhiều hiểu biết về thảo dược. Điều này giúp ông không chỉ hoàn thành các nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam mà còn có nghiên cứu về Đông y của Việt Nam được xuất bản ở Pháp. 

Năm 1919, nhờ vốn hiểu biết uyên bác về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục và y học dân tộc của Việt Nam Albert Sallet trở thành hội viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1926 ông được bổ nhiệm làm giám tuyển Bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng.

*

Continue reading Bảo tàng Khải Định

Phù thuật và tín ngưỡng An Nam

Phù thuật và tín ngưỡng An Nam

Dẫn nhập một triết lý văn minh của người An Nam

Paul Giran

(tác giả)

Hiệu CONSTANT

(người dịch)

Lời tựa của Gustave Le Bon

Phù thuật và tín ngưỡng An Nam: dẫn nhập một triết lý văn minh của người An Nam là một tác công trình khảo cứu về tín ngưỡng tôn giáo của người An Nam, được thể hiện trong đời sống tâm linh có gốc gác lâu đời và những sinh hoạt tín ngưỡng phong phú của người bản xứ. Bố cục tác phẩm khá mạch, gồm ba quyển:

Quyển một, điểm qua các ý niệm siêu hình đầu tiên, đây là các khái niệm trừu tượng (Thái Ất, lưỡng nghi, tứ tượng, ngũ hành bát quái, thập can thập nhị chi v.v) cấu thành vũ trụ quan phổ quát của phương Đông;

Quyển hai, Phù thuật, từ các nhân tố cơ bản (tinh, khí, thần, hồn, phách) mà phát triển thành vô vàn các hiện tượng tâm linh, cùng những lối thực hành đa dạng và có phần xa lạ với tâm thức người phương Tây (thờ cúng tổ tiên, quỷ thần, thành hoàng, xã tắc, bùa chú trừ tà, tiêu tai giải hạn, v.v…);

Quyển ba, Tôn giáo, là bước đỉnh điểm trong quá trình phát triển của tín ngưỡng bản xứ, hình thành nên các hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh, thường xuyên, và chính thức, thay vì những tập tục riêng lẻ và tự phát vốn có mặt từ xa xưa trong dân gian.

Phù thuật và tín ngưỡng An Nam có lẽ không hẳn là một tác phẩm thuần chất nghiên cứu tôn giáo, mà là “Một dẫn nhập về triết lý văn minh của người An Nam”. Giữa vô vàn những chi tiết đa dạng về tín ngưỡng tâm linh như thế, ta vẫn có thể nhận thấy mục đích chính yếu của tác giả là tìm hiểu về “Tâm hồn An Nam”. Đó là mối quan tâm đến những cảm nghĩ đặc thù góp phần định hình nên các thiết chế xã hội lâu đời và bền chặt ngay từ những đơn vị nhỏ như gia đình, dòng tộc, làng xã, ect. Và mối quan tâm đó, vốn là hợp lý đối với một quan chức trong chính quyền Thuộc địa như Paul Giran, được cụ thể hóa qua một chủ đề quan trọng hàng đầu khi nghiên cứu một nền văn minh bản địa: tín ngưỡng tôn giáo.

Continue reading Phù thuật và tín ngưỡng An Nam

Việt Nam Vận Hội

Việt Nam vận hội

Nguyễn Thế Anh

Là sử gia hàng đầu về sử Việt và lịch sử Á Đông trên thế giới, với hàng trăm cuốn sách cùng bài khảo cứu đã được công bố bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, nghiên cứu sử học của Giáo sư Nguyễn Thế Anh được tỏa rộng theo nhiều chủ đề như “nghiên cứu lịch sử địa chất học, nông nghiệp, và khí hậu học; hệ tư tưởng và tôn giáo, bao gồm Phật giáo, Nho giáo, tín ngưỡng dân gian, và chủ nghĩa Marx; giao thương và thương mại; chiến tranh; quan hệ Trung-Việt; quan hệ giữa Việt Nam và phương Tây; lịch sử Đông Á và Đông Nam Á; lịch sử Hoa Kỳ; sử Việt nói chung: từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, đặc biệt nhấn mạnh triều Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc; và các nghiên cứu về lịch sử Việt Nam sau năm 1945”.

Tiếc rằng nhiều khảo cứu có giá trị bằng tiếng Anh, tiếng Pháp của Giáo sư còn khá xa lạ với giới nghiên cứu sử học Việt Nam. Vì vậy cuốn sách Sử học Nguyễn Thế Anh, Việt Nam vận hội chính là kết quả bước đầu trong chặng dài nỗ lực tuyển tập và phiên dịch các bài khảo cứu đó. Dù số lượng bài được tuyển chọn trong sách chỉ là một phần rất nhỏ trong số các công trình của ông, chúng tôi cũng kỳ vọng bổ khuyết được phần nào cho tình trạng thiếu sót về tài liệu cùng những thiên lệch trong quan điểm nghiên cứu lịch sử trên thế giới về Việt sử, và cung hiến cho độc giả góc nhìn rộng và khách quan hơn về các nghiên cứu sử Việt.

Continue reading Việt Nam Vận Hội

Nam biều ký

Nam biều ký

An Nam qua du ký của thủy thủ Nhật Bản cuối thế kỷ XVIII

Shiken Seishi

Nguyễn Mạnh Sơn khảo cứu và biên dịch

Giáo sư Nguyễn Thế Anh giới thiệu

Nam biều ký là một cuốn du ký chứa đựng những thông tin về xứ An Nam hồi cuối thế kỷ XVIII, được ghi chép bởi những thủy thủ Nhật Bản trên con thuyền Taijō-maru chở gạo gặp bão phải trôi dạt đến An Nam. Được xuất bản trong thời kỳ tướng quân Tokugawa bế quan tỏa cảng khắt khe, thậm chí có những sắc lệnh tử hình đối với thủy thủ nào cố tình vi phạm, việc in ấn phát hành sách vở ghi chép về hải ngoại cũng bị cấm tiệt, có lẽ vì thế mà một tác phẩm du ký như Nam biều ký lại càng đáng được chú ý.

Continue reading Nam biều ký

Hagakure – Luận đàm về cốt tủy võ sĩ đạo

Hagakure

Luận đàm về cốt tủy võ sĩ đạo

Yamamoto Tsunetomo

“Đạo của người võ sĩ được nhìn thấy trong sự chết!”

Hagakure nói lên rằng đời sống là một tổng thể phải có cái chết thì mới hoàn chỉnh; sống và chết liên kết chặt chẽ với nhau, cái chết càng cao quý thì sự sống càng đẹp đẽ. Hơn nữa, cái chết cao quý là kết quả của một đời người sống mà như đã chết.”

“Chúa Katsushige tuyên bố, “Những người xuất thân bần hàn không bao giờ được quên quá khứ của mình.” Ngài cũng nói: “Đặt quá khứ ở phía trước, sao cho anh không để nó lại đằng sau mà quên đi anh từ đâu đến.”

Tư tưởng võ sĩ đạo trong Hagakure khiến cuốn sách này liên tục lọt vào các bảng bình chọn các cuốn sách làm thay đổi cuộc đời!

*

Tác giả cuốn sách này, võ sĩ Yamamoto Tsunetomo là samurai phụng sự suốt đời dưới quyền chỉ huy của lãnh chúa phiên Saga là tướng quân Nabeshima Mitsushige. Khi lãnh chúa Nabeshima qua đời vào năm 1700, Yamamoto Jōchō không được phép tuẫn tử để chết theo chủ tướng nên ông chọn cách tuẫn tử về mặt xã hội là đi ở ẩn. Trong thời gian ở ẩn, ông đã truyền lại cho hậu thế tư tưởng về võ sĩ đạo của mình qua cuốn sách Hagakure.

Ngay từ lúc ra đời, Hagakure bị cẩn tắc xem là “sách cấm”, chỉ lưu hành kín trong giới võ sĩ của phiên Saga. Thế nhưng suốt hai thế kỷ sau đó, tư tưởng của cuốn sách đã âm thầm lan tỏa trong lòng nước Nhật Bản phong kiến và từ đó góp phần hình thành đế quốc Nhật Bản quân phiệt có tầm vóc thế giới. Hagakure được phổ biến rộng rãi ở Nhật vào thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi Nhật Bản thua trận năm 1945, cuốn sách một lần nữa bị cấm đoán do bị “hiểu sai” là kích động chủ nghĩa quân phiệt.

Continue reading Hagakure – Luận đàm về cốt tủy võ sĩ đạo