Trích đoạn: Hiện hữu trong từng khoảnh khắc (Presence)

hien huu trong tung khoanh khacTác giả: Amy Cuddy
Dịch giả: Ninh Nguyễn

Trích đoạn:

“Sự hiện hữu, theo cách hiểu mà tôi đề cập xuyên suốt những trang sách này, là trạng thái con người trở nên hòa hợp và có khả năng thể hiện một cách thoải mái các suy nghĩ chân thực, những cảm nhận, các giá trị và tiềm năng của bản thân. Nó không phải là một trạng thái tồn tại siêu nghiệm cố định. Nó đến rồi đi. Nó là hiện tượng thời-điểm-nối-tiếp-thời-điểm.

… Khi cảm thấy mình hiện hữu, từng lời nói, các biểu cảm trên khuôn mặt, tư thế và các động tác của chúng ta đều hòa hợp. Chúng đồng bộ và tập trung. Và sự hội tụ bên trong đó, sự hòa hợp đó hiển hiện và tạo ra cộng hưởng, bởi nó rất thật. Đấy chính là điều khiến chúng ta trở nên thu hút. Ta không phải chiến đấu với chính mình nữa; ta đang là chính mình.”

Về tác giả Amy Cuddy
Amy Cuddy hiện giảng dạy tại Trường Kinh doanh Harvard và là nhà tâm lý học xã hội. Nhiều nghiên cứu của Amy Cuddy đã được đăng tải trên các tạp chí như The New York Times, The Wall Street Journal, The Economist. Cô cũng được tạp chí Business Insider bình chọn là một trong “50 Phụ nữ đang làm thay đổi thế giới”, đồng thời cũng là một Lãnh đạo Trẻ Toàn cầu trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Advertisements

Trích đoạn “Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản”

DSC06512

“… hãy nhìn vào Samsung: Họ không tạo ra bất cứ công nghệ hay sản phẩm mới nào. Thật ra, Nhật Bản mới là lãnh địa của các phát minh, chẳng hạn như sự phát triển đĩa DVD và CD hay việc phát minh ra sợi cáp quang. Có năng lực kỹ thuật là quan trọng, nhưng con cảm thấy có năng lực cách tân trong kinh doanh còn quan trọng hơn, nó khiến việc kết hợp những thứ mới mẻ trở nên khả thi. Ngay cả iPhone cũng chỉ là phần công nghệ kết hợp một chiếc điện thoại, Internet và một camera. Xét về mặt ý tưởng, nó chính xác giống với i-mode(1), nhưng về mặt thị trường, iPhone đã tiến ra toàn cầu còn i-mode trở thành Galapagos(2). Tất cả những điều này giải thích tại sao chúng ta cần tiến lên một bước trong cạnh tranh quốc tế và phát triển năng lực mở rộng kinh doanh ra toàn cầu.”

Chú thích

(1) i-mode là dịch vụ web cho điện thoại đầu tiên trên thế giới, được phát triển bởi NTT DoCoMo vào năm 1999, vốn được ứng dụng chỉ cho điện thoại di động của Nhật Bản và chỉ tương thích ở Nhật Bản.

(2) Galapagos là một quần đảo xa xôi nằm tách biệt ở Thái Bình Dương, hiện thuộc chủ quyền của Ecuador và nằm cách nước này hơn 900 km. Trong cuốn sách, Galapagos được hai cha con tác giả sử dụng như một ẩn dụ cho tình trạng khu biệt, cách ly với thế giới của Nhật Bản.

“Một vấn đề khác là sự cứng nhắc trong chính sách thuê nhân công. Hệ thống làm việc trọn đời(1) đang gây ra những tác động tiêu cực và hạn chế năng lực phát triển một lực lượng lao động linh hoạt cho các công ty và các trường đại học. Kết quả là những nhân công tuổi trung niên ở lại công ty vĩnh viễn, đánh mất đi cơ hội việc làm cho người trẻ.”

Chú thích:

(1) Nguyên văn: “lifetime employment system”, chỉ chính sách lao động của các công ty Nhật Bản là khi đã tuyển dụng một nhân sự thì có trách nhiệm tạo công ăn việc làm đến trọn đời cho nhân sự đó.

Continue reading Trích đoạn “Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản”

Các trích đoạn từ “Chủ nghĩa tư bản có ý thức”

DSC06518“Khúc tráng ca của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh là câu chuyện về các doanh chủ đem giấc mơ và đam mê của họ làm nhiên liệu tiếp sức cho việc tạo ra giá trị phi thường cho khách hàng, người lao động, nhà cung ứng, xã hội và nhà đầu tư.

“Đây là một cách diễn giải rất khác so với cách nhìn nhận lịch sử qua lăng kính của việc tối đa hóa lợi nhuận. Bill Gates không khởi sự Microsoft với mục tiêu trở thành người giàu nhất thế giới. Ông thấy tiềm năng của các máy tính trong việc cải biến đời sống của chúng ta và khát khao tạo ra phần mềm có thể khiến máy tính hữu dụng tới mức dần dần tất cả chúng ta đều sẽ có thể sở hữu một chiếc. Ông đã đi theo tiếng gọi của đam mê và trong quá trình đó, trở thành người giàu nhất thế giới, nhưng đó là kết quả chứ không phải là mục tiêu hay mục đích của ông.

“Huyền thoại cho rằng tối đa hóa lợi nhuận là mục đích duy nhất của việc kinh doanh đã gây tổn hại lớn tới danh tiếng của chủ nghĩa tư bản và tính chính thống của việc kinh doanh trong xã hội. Chúng ta cần thu lại những huyền thoại này và khôi phục nó cho đúng với bản chất thật sự, đó là: mục tiêu của việc kinh doanh là cải thiện cuộc sống của chúng ta và tạo ra giá trị cho các bên có lợi ích liên quan.”

Continue reading Các trích đoạn từ “Chủ nghĩa tư bản có ý thức”

Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

IMG_5094

Dưới đây là lời giới thiệu do Giáo sư Alvin Roth viết riêng cho độc giả Việt Nam nhân dịp cuốn sách về công trình đoạt giải Nobel của ông được xuất bản ở Việt Nam. (Cuốn sách Ai được gì và tại sao (Who gets what and why), Đặng Xuân Tùng dịch.)

LỜI NÓI ĐẦU CHO BẢN TIẾNG VIỆT

Việc dịch một cuốn sách về thị trường từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một cơ hội để ghi nhớ rằng thị trường, giống như ngôn ngữ, là tạo tác cổ xưa của con người. Cả thị trường lẫn ngôn ngữ đều là những công cụ do loài người cùng nhau tạo ra để giúp chúng ta phối hợp với nhau, và do vậy chúng ta không ngừng cập nhật chúng để đáp ứng được những yêu cầu hiện đại.

Giống như việc có các ngôn ngữ khác, cũng có những kiểu thị trường khác nhau, và có những cách khác nhau để tổ chức chúng. Thị trường hàng hóa là thị trường mà trong đó giá cả quyết định việc ai sẽ được cái gì, và các thành phần tham gia thị trường có thể giao dịch với nhau mà không cần phải xưng danh. Nhưng nhiều thị trường liên quan đến các mối quan hệ, và trong những thị trường này bạn quan tâm đến việc mình sẽ giao dịch với ai, và ai sẽ được cái gì không được quyết định chỉ bởi giá cả.

Thị trường ghép đôi là thị trường mà trong đó bạn không thể chỉ lựa chọn thứ bạn muốn, mà bạn còn phải được chọn nữa. Giá cả mình nó không làm tất cả mọi việc trong thị trường ghép đôi, và thỉnh thoảng chúng ta không để giá cả đóng bất cứ vai trò nào. Việc ghép đôi ở dạng này hay dạng khác sẽ quyết định ai sẽ tới trường trung học hay trường đại học nào, ai sẽ nhận được việc làm nào, và ai sẽ cưới ai, và đôi khi là ai sẽ được nhận một loại chăm sóc y tế cụ thể nào đó, như việc cấy ghép tạng chẳng hạn. Continue reading Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

DSC06403Vera Rubin, nhà thiên văn học nữ hiếm hoi trong lịch sử, qua đời ngày 25 tháng 12 vừa qua. Trong những năm 1970, Vera Rubin và đồng nghiệp đã quan sát thiên hà Andromeda và xác nhận sự tồn tại của vật chất tối (dark matter) trong vũ trụ, một ý tưởng được Friz Zwicky ở Caltech đưa ra năm 1933. 

Vera Rubin hiểu hơn ai hết sự phân biệt giới trong khoa học, đặc biệt là thiên văn học, một lĩnh vực do nam giới thống trị hàng ngàn năm. No room for woman. Nhiều nhà vật lý đương đại cho rằng ủy ban Nobel bỏ quên Vera Rubin là việc rất đáng trách. 

Dưới đây là “Omega và Vật chất tối” trích từ Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku (Nhã Nam, NXB Thế Giới, 2015).

OMEGA VÀ VẬT CHẤT TỐI

Câu chuyện về vật chất tối có lẽ là một trong những chương kỳ lạ nhất trong vũ trụ học. Trở lại thập niên 1930, nhà thiên văn người Thụy Sĩ không theo một khuôn phép nào là Fritz Zwicky của Cal Tech nhận thấy rằng các thiên hà trong quần thiên hà Tóc Tiên (Coma) không di chuyển chính xác theo học thuyết hấp dẫn của Newton. Ông thấy các thiên hà này di chuyển nhanh tới mức lẽ ra chúng phải bay tứ tán và đám thiên hà này phải tan rã, nếu tuân theo các định luật Newton về chuyển động. Ông nghĩ rằng cách duy nhất mà quần thiên hà Tóc Tiên có thể được giữ lại với nhau, thay vì bay tứ tán ra ngoài, là cụm này phải có lượng vật chất nhiều hơn hàng trăm lần so với lượng vật chất có thể nhìn thấy được bằng kính thiên văn. Hoặc là các định luật Newton vì lý do nào đó đã không còn đúng ở các khoảng cách tầm thiên hà hoặc đã có một lượng rất lớn vật chất vô hình bị bỏ sót trong quần thiên hà Tóc Tiên đã giữ nó lại cùng nhau.

Điều này là dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử rằng có một cái gì đó hết sức không ổn liên quan tới sự phân bố của vật chất trong vũ trụ. Điều không may là các nhà thiên văn đã đồng loạt từ chối hoặc bỏ qua công trình tiên phong này của Zwicky, vì vài lý do.

Trước hết, các nhà thiên văn khó có thể chấp nhận rằng thuyết hấp dẫn của Newton, vốn đã thống trị vật lý trong vài thế kỷ, lại có thể không đúng. Có một tiền lệ để xử lý các khủng hoảng giống như vậy trong thiên văn học. Khi quỹ đạo của sao Thiên Vương được phân tích trong thế kỷ 19, người ta thấy rằng nó bị lắc lư – bị lệch một lượng nhỏ so với các phương trình của Isaac Newton. Vì vậy, hoặc là Newton sai, hoặc phải có một hành tinh mới mà lực hấp dẫn của nó đã lôi kéo sao Thiên Vương. Hóa ra điều thứ hai là đúng, và sao Hải Vương được tìm thấy ngay từ nỗ lực đầu tiên vào năm 1846 bằng việc phân tích vị trí dự đoán của nó theo các định luật Newton.

Thứ hai, có vấn đề liên quan đến tính cách của Zwicky và đến việc các nhà thiên văn đã đối xử với những “kẻ ngoại đạo” như thế nào. Zwicky là một người nhìn xa trông rộng nhưng thường hay bị chế giễu hay bị bỏ qua trong suốt cuộc đời. Năm 1933, cùng với Walter Baade, ông đã đặt ra từ “supernova” (“sao siêu mới”) và dự đoán đúng rằng một sao nơtron nhỏ, kích thước khoảng 14 dặm (22,5 km), sẽ là tàn tích cuối cùng của một ngôi sao nổ tung. Ý tưởng này kỳ dị tới mức nó đã bị đả kích trong một bức tranh biếm họa trên nhật báo Los Angeles Times vào ngày 19 tháng 1 năm 1934. Zwicky tức giận một nhóm nhỏ các nhà thiên văn thượng lưu, những kẻ mà ông nghĩ rằng đã ra sức không công nhận ông, đã ăn cắp các ý tưởng của ông và không cho ông làm việc trên các kính viễn vọng 100 và 200 inch (2,5 m và 5 m). (Ngay trước khi ông qua đời vào năm 1974, Zwicky tự xuất bản một danh lục liệt kê các thiên hà. Danh lục này mở đầu với tiêu đề: “Một lời nhắc nhở với các Tu sĩ Cao cấp của Thiên văn học Mỹ và những kẻ nịnh hót họ.” Bài tiểu luận này đã đưa ra lời phê phán nghiêm khắc bản chất bè phái, hẹp hòi của tầng lớp thượng lưu trong giới thiên văn học, những kẻ có xu hướng loại trừ những người không tuân theo khuôn phép như ông. “Ngày nay những kẻ nịnh hót và những kẻ trộm cắp rõ ràng dường như được tự do, trong hội Thiên văn học Mỹ nói riêng, chiếm đoạt các khám phá và các sáng kiến do những con sói cô độc và những kẻ không theo lề thói tạo ra,”* ông đã viết như vậy. Ông còn gọi các cá nhân này là “những kẻ chết tiệt béo tròn,” bởi vì “chúng là những kẻ chết tiệt theo bất kỳ cách nào bạn nhìn chúng.” Ông còn điên tiết vì đã bị gạt ra khi giải Nobel được trao cho người khác do thành tích phát hiện ra sao nơtron.*)

Continue reading Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

[Trích] Thế giới khác đi nhờ có bạn

DSC05407Trong cuốn sách “Thế giới khác đi nhờ có bạn”, Lý Khai Phục có kể lại việc Apple tuyển dụng ông, lúc đó đang làm nghiên cứu khoa học ở trường đại học. Trong thời gian làm việc ở Apple, Lý Khai Phục đã đúc kết được rất nhiều suy nghĩ, bài học vừa bổ ích lại không kém phần thú vị. Những điều ấy được ông kể lại khá dí dỏm trong cuốn sách của mình thế này.

“Steve Jobs là người có tư tưởng không giống ai, vừa quật cường vừa sắc bén, một mình một lối, ngông cuồng kiêu ngạo. Ông có thể nói với người mà ông xem thường: ‘Nài, mày là bozo (thằng ngu)!’ Lúc đó Steve Jobs căn bản không coi Microsoft ra gì.”

“Các kỹ sư của Apple đều thuộc dạng khó kiểm soát. Họ từng đặt tên một sản phẩm của dự án là Carl Sagan, tên một nhà thiên văn học nổi tiếng, Carl Sagan kiện Apple xâm phạm quyền đặt tên. Thế là, các kỹ sư đổi tên sản phẩm thành BHA, nghĩa là Nhà thiên văn học lỗ đít (Butt-hole astronomer).”

“Thời kỳ đầu công ty mới thành lập, Steve Jobs từng treo trên nóc nhà một lá cờ hải tặc khổng lồ, như muốn tuyên bố với mọi người: Tôi hoàn toàn chẳng giống ai! Steve Jobs còn để trong căn phòng ‘hải tặc’ của ông một cây đàn piano Bösendorfer và một cặp loa 10 ngàn đô la. Đôi khi, Steve bất ngờ diễn tấu một khúc nhạc đầy cảm hứng cho toàn thể nhân viên, khiến niềm đam mê cháy rực khắp căn phòng lớn.”

“Tôi coi mình là cầu nối giữa nhân viên và tầng lớp lãnh đạo của công ty. Đầu tiên phải hiểu được quan điểm chiến lược của cấp trên, sau đó truyền đạt cho nhân viên. Tôi giảm bớt sự hiếu kỳ của mình, kiềm chế ý muốn hỏi han từng việc nhỏ, tin tưởng nhân viên, cho nhân viên tự do trong phạm vi nhất định. Tôi tin rằng, đây mới là nghệ thuật quản lý chân chính. Hơn nữa, là một người quản lý, khi giá trị quan của nhân viên không phù hợp với công ty, bạn phải mạnh dạn ra quyết sách.”

*

“Thứ quý giá nhất mà bạn đem theo được khi rời khỏi trường, không phải là luận án, mà là năng lực phân tích và tư duy độc lập, kinh nghiệm nghiên cứu và phát hiện chân lý, cả tầm nhìn và hoài bão của một nhà khoa học nữa. Một ngày nào đó khi bạn không còn nghiên cứu lĩnh vực này nữa, bạn vẫn có thể làm đến mức độ tốt nhất ở bất kỳ lĩnh vực mới nào.”

“Người chỉ biết nghĩ mà không biết biểu đạt thì chẳng khác nào người không biết nghĩ.”

“Đừng mù quáng theo chân người khác, đừng để bị tín điều mê hoặc, chỉ có trái tim của bạn mới biết rõ bạn thực sự muốn trở thành người như thế nào, chỉ có bạn mới có thể tìm thấy giá trị của bản thân.”

“Nắm bắt lấy cơ hội tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, thể nào cũng có một ngày, thế giới sẽ khác đi nhờ có bạn.”

*


“Biết cái gì là make a difference (làm cho khác biệt) không? Hãy tưởng tượng ra hai thế giới, một thế giới có bạn và một thế giới không có bạn, rồi so sánh hai thế giới đó với nhau, khiến cho sự khác biệt giữa hai thế giới này trở nên lớn nhất có thể, làm cho ảnh hưởng từ sự tồn tại của mình trở nên lớn nhất có thể. Đây chính là ý nghĩa của cuộc đời bạn.”

“Hãy để ước mơ và lý tưởng của bạn dẫn dắt cuộc đời bạn,

“Đừng để bị tín điều mê hoặc.
Mù quáng trước tín điều chính là sống trong kết quả suy nghĩ của người khác.
Đừng để ý kiến của bất kỳ ai lấp đi tiếng nói trái tim bạn.
Quan trọng nhất là phải đồng hành cùng dũng khí của trực giác và con tim.
Trực giác và con tim bạn ít nhiều gì cũng đã biết bạn thật sự muốn trở thành người như thế nào.
Tất cả những chuyện khác đều là thứ yếu.”

“Chỉ có lắng nghe tiếng nói từ trái tim mình, mới có thể thật sự “từ bỏ”, mới có thể khiến mình dốc sức lao về phía trước, đạt đến “thế giới lý tưởng” trong chính tâm hồn mình.”

 

[Trích] Lính bắn tỉa Mỹ

DSC05405“Lính bắn tỉa Mỹ” đã mắt bạn đọc Nhã Nam rồi đây, hẳn là nhiều người đã xem phim rồi, và tò mò tự hỏi, cuốn sách sẽ như thế nào nhỉ? Và đây là lời của chính tác giả về cuốn sách:

“Các sự kiện diễn ra trong cuốn sách này đều là sự thật, được thuật lại theo ký ức nguyên vẹn nhất của tôi. Bộ Quốc phòng, trong đó có cả những sĩ quan Hải quân cao cấp, đã đọc để kiểm tra tính chính xác và các tài liệu nhạy cảm. Dù đồng ý cho xuất bản, điều này không có nghĩa là họ thích thú với mọi điều đã đọc. Nhưng đây là câu chuyện của tôi chứ không phải của họ. Chúng tôi đã tái hiện cuộc đối thoại của ký ức, tức là có thể không chính xác đến từng từ, nhưng bản chất của những điều được kể là chính xác.”

Trong “Lính bắn tỉa Mỹ” bạn đọc không chỉ thấy hoạt động chống khủng bố của đặc nhiệm SEAL, mà cũng sẽ thấy biến đổi tâm lý, suy nghĩ và tình cảm của nhân vật chính: một trong những tay lính bắn tỉa xuất sắc nhất của quân đội Mỹ.

Xen giữa huấn luyện nhọc nhằn, chiến đấu ác liệt, xen giữa sự sống và cái chết là những chuyện đời của người lính, từ yêu đương đến lập gia đình rồi sinh con. Và những tình bạn keo sơn trong chiến đấu, khiến người ta ám ảnh khôn nguôi cả khi đã rời cuộc chiến…

“Chúng tôi đã chôn chân rất lâu trong phòng.

Tình hình ở Ramadi vẫn nóng bỏng và nặng nề, với nhịp độ chiến đấu khốc liệt, thậm chí còn hơn cả ở Fallujah. Chúng tôi đã chiến đấu trong mấy ngày liền, thậm chí cả tuần, với một đợt nghỉ ngắn ngủi xen kẽ giữa những trận đánh. Một số người trong chúng tôi cảm thấy kiệt sức ngay cả trước khi có những đồng đội bị dính đạn.

Continue reading [Trích] Lính bắn tỉa Mỹ