Tâm lý người An Nam

DSC03060Tâm lý người An Nam

Tính cách Dân tộc, Tiến trình Lịch sử, Tri thức, Xã hội và Chính trị

(Psychologie du people Annamite)

Tác giả: Paul Giran

Dịch giả: Nguyễn Tiến Văn

 

Tác giả cuốn sách Tâm lý người An Nam, ông Paul Giran, là một quan chức của chính quyền Đông Dương thuộc địa. Với cuốn sách này, Paul Giran có tham vọng tường giải tâm lý dân tộc An Nam, bằng một cuộc truy nguyên về cội nguồn dân tộc đó ở đại gia đình dòng giống Mông Cổ chiếm cứ vùng trung tâm châu Á, đánh giá những nhân tố tác động thuộc về môi trường tự nhiên và nhân văn, để rồi đúc kết nên cá tính và tâm hồn bản địa trải qua cuộc tiến hóa dài lâu của lịch sử.

Với kiến văn sắc sảo và sự hiểu biết khá phong phú của Paul Giran về lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa Việt Nam, Tâm lý người An nam là một tư liệu có giá trị lịch sử, chí ít là khi đối sánh với tâm lý thực dân cai trị.

Là một tri thức người Pháp sống và làm việc ở Việt Nam mấy chục năm, Paul Giran rất rành rẽ về con người và tập quán bản xứ, vì vậy mà Tâm lý người An Nam là một bức tranh sinh động và tỉ mỉ về cuộc sống thường của xã hội địa phương. Đồng thời, Paul Giran còn là một chức sắc thuộc chính quyền bảo hộ, vì thế ông không thể tránh khỏi sự thiên kiến đối với các quốc gia kém phát triển hơn. Tuy vậy, ông luôn mang trong mình một bầu nhiệt huyết về công cuộc “khai hóa” viễn xứ, mong đem đến cho các dân tộc xa xôi một cuộc sống giàu sang, no ấm như ở nước nhà, như ông đã viết trong lời tựa của cuốn sách này: “Chúng tôi đâu có chiếm lấy xứ sở này, mà chúng tôi sẽ cải hoá nó. Chúng tôi không làm cho dòng giống này tiêu ma, mà dưới sự điều hành của chúng tôi, dòng giống này chắc chắn sẽ tiến triển về số lượng và về sự giàu sang…”

Trong vai trò học giả, Paul Giran đã cố gắng lập luận một cách khách quan, không ngại phơi bày những lề lối hủ tục của đối tượng nghiên cứu, dù là người An Nam, Trung Hoa, hay Mã Lai. Từ đó giúp độc giả hiểu thêm về con người Việt Nam, đời sống vật chất và tinh thần cũng như tín ngưỡng tâm linh của dân tộc cách nay hơn một thế kỷ từ một góc nhìn khác lạ. Continue reading Tâm lý người An Nam

Advertisements

Marketing mở đường tăng trưởng

DSC00484Marketing mở đường tăng trưởng

(Marketing for growth)

The Economist & Iain Ellwood

Cuốn cẩm nang này sẽ chỉ ra cách thức cũng như lý do tại sao marketing là tác nhân thúc đẩy tăng trưởng quan trọng nhất của doanh nghiệp hiện nay. Những người làm marketing (hay còn được gọi là các “marketer”) đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra doanh thu, cũng như trong việc biến doanh thu thành lợi nhuận. Họ chính là những người đầu tiên nắm bắt được các hành vi và nhu cầu đang thay đổi của khách hàng và những động lực trên thị trường.

Cuốn sách cũng hé mở cách thức giúp các marketer xác định được những khách hàng giá trị nhất, những phương thức hiệu quả nhất để thúc đẩy doanh thu tăng trưởng, và những cách thức tốt nhất để nâng cao khả năng sinh lời. Cuốn sách kết hợp kiến thức với các hướng dẫn thực tiễn, được minh họa bằng rất nhiều dữ liệu và chứng cứ xác thực từ hàng loạt doanh nghiệp lớn như Amazon, China Mobile, Dove, Goldman Sachs, Haier, Lenovo, Mini, Procter & Gamble, Red Bull, Target, Twitter, Virgin và Zara.

Continue reading Marketing mở đường tăng trưởng

Trích đoạn: Hiện hữu trong từng khoảnh khắc (Presence)

hien huu trong tung khoanh khacTác giả: Amy Cuddy
Dịch giả: Ninh Nguyễn

Trích đoạn:

“Sự hiện hữu, theo cách hiểu mà tôi đề cập xuyên suốt những trang sách này, là trạng thái con người trở nên hòa hợp và có khả năng thể hiện một cách thoải mái các suy nghĩ chân thực, những cảm nhận, các giá trị và tiềm năng của bản thân. Nó không phải là một trạng thái tồn tại siêu nghiệm cố định. Nó đến rồi đi. Nó là hiện tượng thời-điểm-nối-tiếp-thời-điểm.

… Khi cảm thấy mình hiện hữu, từng lời nói, các biểu cảm trên khuôn mặt, tư thế và các động tác của chúng ta đều hòa hợp. Chúng đồng bộ và tập trung. Và sự hội tụ bên trong đó, sự hòa hợp đó hiển hiện và tạo ra cộng hưởng, bởi nó rất thật. Đấy chính là điều khiến chúng ta trở nên thu hút. Ta không phải chiến đấu với chính mình nữa; ta đang là chính mình.”

Về tác giả Amy Cuddy
Amy Cuddy hiện giảng dạy tại Trường Kinh doanh Harvard và là nhà tâm lý học xã hội. Nhiều nghiên cứu của Amy Cuddy đã được đăng tải trên các tạp chí như The New York Times, The Wall Street Journal, The Economist. Cô cũng được tạp chí Business Insider bình chọn là một trong “50 Phụ nữ đang làm thay đổi thế giới”, đồng thời cũng là một Lãnh đạo Trẻ Toàn cầu trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Trích đoạn “Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản”

DSC06512

“… hãy nhìn vào Samsung: Họ không tạo ra bất cứ công nghệ hay sản phẩm mới nào. Thật ra, Nhật Bản mới là lãnh địa của các phát minh, chẳng hạn như sự phát triển đĩa DVD và CD hay việc phát minh ra sợi cáp quang. Có năng lực kỹ thuật là quan trọng, nhưng con cảm thấy có năng lực cách tân trong kinh doanh còn quan trọng hơn, nó khiến việc kết hợp những thứ mới mẻ trở nên khả thi. Ngay cả iPhone cũng chỉ là phần công nghệ kết hợp một chiếc điện thoại, Internet và một camera. Xét về mặt ý tưởng, nó chính xác giống với i-mode(1), nhưng về mặt thị trường, iPhone đã tiến ra toàn cầu còn i-mode trở thành Galapagos(2). Tất cả những điều này giải thích tại sao chúng ta cần tiến lên một bước trong cạnh tranh quốc tế và phát triển năng lực mở rộng kinh doanh ra toàn cầu.”

Chú thích

(1) i-mode là dịch vụ web cho điện thoại đầu tiên trên thế giới, được phát triển bởi NTT DoCoMo vào năm 1999, vốn được ứng dụng chỉ cho điện thoại di động của Nhật Bản và chỉ tương thích ở Nhật Bản.

(2) Galapagos là một quần đảo xa xôi nằm tách biệt ở Thái Bình Dương, hiện thuộc chủ quyền của Ecuador và nằm cách nước này hơn 900 km. Trong cuốn sách, Galapagos được hai cha con tác giả sử dụng như một ẩn dụ cho tình trạng khu biệt, cách ly với thế giới của Nhật Bản.

“Một vấn đề khác là sự cứng nhắc trong chính sách thuê nhân công. Hệ thống làm việc trọn đời(1) đang gây ra những tác động tiêu cực và hạn chế năng lực phát triển một lực lượng lao động linh hoạt cho các công ty và các trường đại học. Kết quả là những nhân công tuổi trung niên ở lại công ty vĩnh viễn, đánh mất đi cơ hội việc làm cho người trẻ.”

Chú thích:

(1) Nguyên văn: “lifetime employment system”, chỉ chính sách lao động của các công ty Nhật Bản là khi đã tuyển dụng một nhân sự thì có trách nhiệm tạo công ăn việc làm đến trọn đời cho nhân sự đó.

Continue reading Trích đoạn “Hồi sinh sự thần kỳ Nhật Bản”

Các trích đoạn từ “Chủ nghĩa tư bản có ý thức”

DSC06518“Khúc tráng ca của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh là câu chuyện về các doanh chủ đem giấc mơ và đam mê của họ làm nhiên liệu tiếp sức cho việc tạo ra giá trị phi thường cho khách hàng, người lao động, nhà cung ứng, xã hội và nhà đầu tư.

“Đây là một cách diễn giải rất khác so với cách nhìn nhận lịch sử qua lăng kính của việc tối đa hóa lợi nhuận. Bill Gates không khởi sự Microsoft với mục tiêu trở thành người giàu nhất thế giới. Ông thấy tiềm năng của các máy tính trong việc cải biến đời sống của chúng ta và khát khao tạo ra phần mềm có thể khiến máy tính hữu dụng tới mức dần dần tất cả chúng ta đều sẽ có thể sở hữu một chiếc. Ông đã đi theo tiếng gọi của đam mê và trong quá trình đó, trở thành người giàu nhất thế giới, nhưng đó là kết quả chứ không phải là mục tiêu hay mục đích của ông.

“Huyền thoại cho rằng tối đa hóa lợi nhuận là mục đích duy nhất của việc kinh doanh đã gây tổn hại lớn tới danh tiếng của chủ nghĩa tư bản và tính chính thống của việc kinh doanh trong xã hội. Chúng ta cần thu lại những huyền thoại này và khôi phục nó cho đúng với bản chất thật sự, đó là: mục tiêu của việc kinh doanh là cải thiện cuộc sống của chúng ta và tạo ra giá trị cho các bên có lợi ích liên quan.”

Continue reading Các trích đoạn từ “Chủ nghĩa tư bản có ý thức”

Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

IMG_5094

Dưới đây là lời giới thiệu do Giáo sư Alvin Roth viết riêng cho độc giả Việt Nam nhân dịp cuốn sách về công trình đoạt giải Nobel của ông được xuất bản ở Việt Nam. (Cuốn sách Ai được gì và tại sao (Who gets what and why), Đặng Xuân Tùng dịch.)

LỜI NÓI ĐẦU CHO BẢN TIẾNG VIỆT

Việc dịch một cuốn sách về thị trường từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một cơ hội để ghi nhớ rằng thị trường, giống như ngôn ngữ, là tạo tác cổ xưa của con người. Cả thị trường lẫn ngôn ngữ đều là những công cụ do loài người cùng nhau tạo ra để giúp chúng ta phối hợp với nhau, và do vậy chúng ta không ngừng cập nhật chúng để đáp ứng được những yêu cầu hiện đại.

Giống như việc có các ngôn ngữ khác, cũng có những kiểu thị trường khác nhau, và có những cách khác nhau để tổ chức chúng. Thị trường hàng hóa là thị trường mà trong đó giá cả quyết định việc ai sẽ được cái gì, và các thành phần tham gia thị trường có thể giao dịch với nhau mà không cần phải xưng danh. Nhưng nhiều thị trường liên quan đến các mối quan hệ, và trong những thị trường này bạn quan tâm đến việc mình sẽ giao dịch với ai, và ai sẽ được cái gì không được quyết định chỉ bởi giá cả.

Thị trường ghép đôi là thị trường mà trong đó bạn không thể chỉ lựa chọn thứ bạn muốn, mà bạn còn phải được chọn nữa. Giá cả mình nó không làm tất cả mọi việc trong thị trường ghép đôi, và thỉnh thoảng chúng ta không để giá cả đóng bất cứ vai trò nào. Việc ghép đôi ở dạng này hay dạng khác sẽ quyết định ai sẽ tới trường trung học hay trường đại học nào, ai sẽ nhận được việc làm nào, và ai sẽ cưới ai, và đôi khi là ai sẽ được nhận một loại chăm sóc y tế cụ thể nào đó, như việc cấy ghép tạng chẳng hạn. Continue reading Nobel Kinh tế: Ai được gì và tại sao

Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song

DSC06403Vera Rubin, nhà thiên văn học nữ hiếm hoi trong lịch sử, qua đời ngày 25 tháng 12 vừa qua. Trong những năm 1970, Vera Rubin và đồng nghiệp đã quan sát thiên hà Andromeda và xác nhận sự tồn tại của vật chất tối (dark matter) trong vũ trụ, một ý tưởng được Friz Zwicky ở Caltech đưa ra năm 1933. 

Vera Rubin hiểu hơn ai hết sự phân biệt giới trong khoa học, đặc biệt là thiên văn học, một lĩnh vực do nam giới thống trị hàng ngàn năm. No room for woman. Nhiều nhà vật lý đương đại cho rằng ủy ban Nobel bỏ quên Vera Rubin là việc rất đáng trách. 

Dưới đây là “Omega và Vật chất tối” trích từ Các thế giới song song của tác giả Michio Kaku (Nhã Nam, NXB Thế Giới, 2015).

OMEGA VÀ VẬT CHẤT TỐI

Câu chuyện về vật chất tối có lẽ là một trong những chương kỳ lạ nhất trong vũ trụ học. Trở lại thập niên 1930, nhà thiên văn người Thụy Sĩ không theo một khuôn phép nào là Fritz Zwicky của Cal Tech nhận thấy rằng các thiên hà trong quần thiên hà Tóc Tiên (Coma) không di chuyển chính xác theo học thuyết hấp dẫn của Newton. Ông thấy các thiên hà này di chuyển nhanh tới mức lẽ ra chúng phải bay tứ tán và đám thiên hà này phải tan rã, nếu tuân theo các định luật Newton về chuyển động. Ông nghĩ rằng cách duy nhất mà quần thiên hà Tóc Tiên có thể được giữ lại với nhau, thay vì bay tứ tán ra ngoài, là cụm này phải có lượng vật chất nhiều hơn hàng trăm lần so với lượng vật chất có thể nhìn thấy được bằng kính thiên văn. Hoặc là các định luật Newton vì lý do nào đó đã không còn đúng ở các khoảng cách tầm thiên hà hoặc đã có một lượng rất lớn vật chất vô hình bị bỏ sót trong quần thiên hà Tóc Tiên đã giữ nó lại cùng nhau.

Điều này là dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử rằng có một cái gì đó hết sức không ổn liên quan tới sự phân bố của vật chất trong vũ trụ. Điều không may là các nhà thiên văn đã đồng loạt từ chối hoặc bỏ qua công trình tiên phong này của Zwicky, vì vài lý do.

Trước hết, các nhà thiên văn khó có thể chấp nhận rằng thuyết hấp dẫn của Newton, vốn đã thống trị vật lý trong vài thế kỷ, lại có thể không đúng. Có một tiền lệ để xử lý các khủng hoảng giống như vậy trong thiên văn học. Khi quỹ đạo của sao Thiên Vương được phân tích trong thế kỷ 19, người ta thấy rằng nó bị lắc lư – bị lệch một lượng nhỏ so với các phương trình của Isaac Newton. Vì vậy, hoặc là Newton sai, hoặc phải có một hành tinh mới mà lực hấp dẫn của nó đã lôi kéo sao Thiên Vương. Hóa ra điều thứ hai là đúng, và sao Hải Vương được tìm thấy ngay từ nỗ lực đầu tiên vào năm 1846 bằng việc phân tích vị trí dự đoán của nó theo các định luật Newton.

Thứ hai, có vấn đề liên quan đến tính cách của Zwicky và đến việc các nhà thiên văn đã đối xử với những “kẻ ngoại đạo” như thế nào. Zwicky là một người nhìn xa trông rộng nhưng thường hay bị chế giễu hay bị bỏ qua trong suốt cuộc đời. Năm 1933, cùng với Walter Baade, ông đã đặt ra từ “supernova” (“sao siêu mới”) và dự đoán đúng rằng một sao nơtron nhỏ, kích thước khoảng 14 dặm (22,5 km), sẽ là tàn tích cuối cùng của một ngôi sao nổ tung. Ý tưởng này kỳ dị tới mức nó đã bị đả kích trong một bức tranh biếm họa trên nhật báo Los Angeles Times vào ngày 19 tháng 1 năm 1934. Zwicky tức giận một nhóm nhỏ các nhà thiên văn thượng lưu, những kẻ mà ông nghĩ rằng đã ra sức không công nhận ông, đã ăn cắp các ý tưởng của ông và không cho ông làm việc trên các kính viễn vọng 100 và 200 inch (2,5 m và 5 m). (Ngay trước khi ông qua đời vào năm 1974, Zwicky tự xuất bản một danh lục liệt kê các thiên hà. Danh lục này mở đầu với tiêu đề: “Một lời nhắc nhở với các Tu sĩ Cao cấp của Thiên văn học Mỹ và những kẻ nịnh hót họ.” Bài tiểu luận này đã đưa ra lời phê phán nghiêm khắc bản chất bè phái, hẹp hòi của tầng lớp thượng lưu trong giới thiên văn học, những kẻ có xu hướng loại trừ những người không tuân theo khuôn phép như ông. “Ngày nay những kẻ nịnh hót và những kẻ trộm cắp rõ ràng dường như được tự do, trong hội Thiên văn học Mỹ nói riêng, chiếm đoạt các khám phá và các sáng kiến do những con sói cô độc và những kẻ không theo lề thói tạo ra,”* ông đã viết như vậy. Ông còn gọi các cá nhân này là “những kẻ chết tiệt béo tròn,” bởi vì “chúng là những kẻ chết tiệt theo bất kỳ cách nào bạn nhìn chúng.” Ông còn điên tiết vì đã bị gạt ra khi giải Nobel được trao cho người khác do thành tích phát hiện ra sao nơtron.*)

Continue reading Vật chất tối, Fritz Zwicky và Vera Rubin – Trích Các thế giới song song