Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh

viet-nam-van-hoa-su-cuongTrích từ Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh.

Tổ tiên ta bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu đời Bắc thuộc, mà có lẽ từ đời Triệu Đà nữa, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp. Cách tổ chức ấy, sử sách không chép rõ như thế nào, song ta có thể đoán là còn sơ sài lắm, mà trình độ giáo dục cũng chưa được cao, cho nên phàm những người có tiếng về học vấn ở thời đại Bắc thuộc đều đã du học ở Trung Quốc (Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng). Đến triều Ngô và triều Đinh độc lập vì trị nước không được lâu mà lại phải lo chỉnh đốn việc võ bị và chính trị, chưa rảnh mà tổ chức việc giáo dục, cho nên việc học bấy giờ chỉ có ở trong các chùa chiền. Ta có thể nói rằng đời bấy giờ Hán học nhờ Phật học mà truyền bá ở trong dân gian. Lý Công Uẩn là vua sáng nghiệp của triều Lý, cũng từng chịu giáo dục ở nhà chùa[1].

Triều Lý, đến đời Lý Thánh Tôn (1054-1072) thì việc dẹp loạn đã tạm yên, việc chính trị cũng đã chỉnh đốn, nên vua đổi quốc hiệu là Đại Việt và bắt đầu sửa sang việc học. Ngài sai lập Văn Miếu (nước ta có Văn Miếu là từ đấy), sai làm tượng Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền để thờ, tỏ ý tôn trọng Nho học. Đời vua Trần Nhân Tôn, năm 1075 mở khoa thi tam trường để chọn người minh kinh bác học bổ làm quan, đó là kỳ thi thứ nhất ở nước ta, chọn được mười người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076 vua lại lập trường Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài, rồi đến năm 1086 lại mở khoa thi chọn người vào Hàn lâm viện, có Mạc Hiển Tích đậu đầu, được bổ Hàn lâm học sĩ. Thời bấy giờ Nho giáo đã được suy tôn, song Phật giáo và Lão giáo cũng đồng thịnh cho nên nhà vua lại thường mở khoa thi tam giáo (đời Lý ASang triều Trần, ngay đời Trần Thái Tôn, việc giáo dục và khoa cử đã tổ chức châu đáo hơn ở triều Lý. Năm 1232, ngoài phép thi tam trường như đời trước lại mở thêm khoa thi Thái học sinh, chia làm tam giáp để phân biệt cao thấp (theo phép thi của nhà Minh nước Tàu). Đến khoa thi năm 1247 lại đặt ra tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa) ở trên Thái học sinh. Cũng năm ấy lại có khoa thi tam giáo bắt học sinh phải thi cả ba môn Nho học, Phật học và Lão học. Năm 1253, lại lập Quốc học viện để giảng tứ thư ngũ kinh và lập Giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Ta xem thế thì thấy ở đời Trần Thái Tôn, không những phạm vi việc học rộng rãi, kiêm trọng cả Nho, Phật, Lão, mà việc giáo dục lại trọng cả trí dục và thể dục. Tiếc vì sử sách chép sơ lược ta không thể nghiên cứu rõ ràng về cách tổ chức và chương trình.

Continue reading Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh

Advertisements

Sử ký: thiên cổ kỳ thư – Thanh Khê

su-ky_3_

Tư Mã Thiên tự Tử Trường, làm Thái sử lệnh thời nhà Hán, được tôn là sử thánh của Trung Hoa. Lên mười đã thông thuộc nhiều kinh sử văn chương, hai mươi tuổi đã theo cha du hành tứ hải. Giữa thời buổi nghề viết văn viết sử bị “Chúa thượng đùa bỡn, nuôi như bọn con hát”, còn “Thế tục thì vẫn coi thường”, mà cha con họ Tư Mã vẫn ôm mộng làm Chu Công, Khổng Tử. Mới thấy, đó không phải là lối tư duy lọc lõi của kẻ thức thời.

Sinh thời thân phụ ông cũng làm sử quan, nhưng mộng lớn dở dang, trước khi qua đời đành gửi gắm lại cho con trai. Chí lớn, tâm hồn phóng khoáng là thế, mà tính tình cương trực, thân cô thế côi. Đến nỗi phải chịu cung hình, đứng ngang hàng với đám hoạn quan, nỗi nhục lớn nhất đối với bậc chính nhân quân tử. “Thân thể tàn phế, uất ức một mình chẳng biết tỏ cùng ai”, cực chẳng đã bèn nuốt hận mà sống, lặng lẽ biên chép thế sự, gửi cho hậu thế. Bởi vậy mà Sử ký của họ Tư Mã mang tầm vóc của ngàn năm, chứ không phải thứ tham vọng công danh đương thế, cũng chẳng phải lời lẽ bợ đỡ quân vương.

Nói về tầm vóc của Sử ký, khó mà gói gọn trong một vài lời được. Lỗ Tấn bảo “một tập Ly Tao không vần”. Quách Mạt Nhược lại đánh giá đây là bản tổng kết văn hóa Trung Quốc lần thứ hai, công lao so với Khổng Tử thì “không hơn không kém”. Sử ký đồ sộ, trước nay chỉ có vài bản tuyển dịch vào Việt văn. Nên nỗ lực dịch trọn bộ của công ty sách Nhã Nam, có thể nói là lần đầu tiên.

Đó cũng là điều dễ hiểu. Vì trong số 5 phần của Sử ký, Bản kỷ phần nhiều là huyền sử, hoặc nếu không cũng thuộc một thời quá vãng xa xôi, khó gợi nên niềm hứng khởi. Biểu, Thư tuy hệ thống, công phu nhưng e không hợp với tính giải trí đơn thuần. Có chăng là Thế gia, và Liệt truyện, các phần dài nhất, và hấp dẫn nhất đối với đông đảo độc giả. Chi tiết bài viết này xin được dành cho phần Liệt truyện quyển thượng, phần mới nhất vừa được ra mắt của bộ Sử ký. Continue reading Sử ký: thiên cổ kỳ thư – Thanh Khê

Làm quen Triết học qua biếm họa – Ngô Bảo Châu

lam-quen-triet-hoc-qua-biem-hoa-01Lời giới thiệu và trích đăng cuốn “Làm quen triết học qua biếm họa” của Michael F.Patton và Kevin Cannon, bản dịch của Đỗ Trí Vương.

Bertrand Russel xác định vị trí của triết học là nằm ở đâu đó trong khoảng trống giữa thần học và khoa học. Giống như thần học, không thể trả lời những câu hỏi triết học đến tận cùng, hiểu biết của triết học luôn mang tính bất toàn. Mặt khác, giống như khoa học, triết học vận hành bằng lý trí và suy luận chứ không cho phép mình nương vào đức tin, mạc khải hay lý lẽ quyền lực. Nếu như khoa học chưa đưa ra được câu trả lời thích đáng cho những suy tư nguyên thuỷ của con người, thì những câu trả lời mà thần học đem đến ngày nay có vẻ không còn tính thuyết phục như trước đây. Vì thế mà dù cho câu trả lời của triết học thiếu tính xác quyết, nó thật cần thiết cho những ai còn ngay ngáy suy tư.

Nhà toán học ngày nay ít khi đọc trực tiếp sách của các tiền bối như Euler, Gauss … vì những khái niệm và định lý quan trọng của Euler và Gauss liên tục được tổng quát hoá và làm cho sáng, cho rõ hơn. Tính kế thừa trong triết học thì rất khác. Người đi sau đôi khi, thậm chí thường xuyên phủ định những gì người đi trước nói, nhưng bản thân sự phủ định đó thường không triệt để vì định đề triết học không có tính xác quyết tuyệt đối như toán học. Vì thế, học triết vẫn phải bắt đầu từ lịch sử triết học để qua đó, người học nắm bắt được những luận cứ cơ bản của những bộ óc triết lý theo dòng lịch sử. Chính những luận cứ đó, có lúc bổ trợ cho nhau, có lúc đối lập thậm chí mâu thuẫn với nhau, làm nên nền tảng của triết học.

Làm quen triết học qua biếm họa của Patton và Cannon là một quyển sách đáng yêu. Nó dành cho bất cứ ai còn có suy tư và băn khoăn về triết học. Các luận cứ cơ bản của các triết gia lớn được trình bày một cách giản dị, dễ hiểu, thoang thoáng hài hước mà càng đọc, người đọc càng bị cuốn hút hơn bởi những câu hỏi triết học. Các nhân vật, những bộ óc triết lý lớn của lịch sử, không xuất hiện theo trình tự thời gian, mà theo trình tự của những câu hỏi triết học. Continue reading Làm quen Triết học qua biếm họa – Ngô Bảo Châu

Làm quen Kinh tế học qua biếm họa – Tập 2: Kinh tế Vĩ mô – Lê Hồng Giang

lam-quen-kinh-te-hoc-qua-biem-hoa-tap-2-01Lời giới thiệu và trích đăng cuốn “Làm quen kinh tế học qua biếm họa, tập 2: Kinh tế Vĩ Mô, của Grady Klein & Tiến sĩ Yoram Bauman, bản dịch của Lê Khánh Toàn.

Hầu hết các giáo trình và khoá học kinh tế đều mặc định chia kinh tế học thành hai nhánh: vi mô và vĩ mô, với hàm ý vi mô cho từng cá thể còn vĩ mô cho cả nền kinh tế. Thực ra vi mô có thể coi là nền tảng chung của kinh tế học, vĩ mô theo nghĩa hẹp của từ này là một trong các nhánh chuyên sâu tương đương như kinh tế học tài chính, kinh tế học lao động, kinh tế học phát triển, kinh tế học môi trường… Bởi vậy, tập hai này dù có tên là kinh tế học vĩ mô, thực ra bao quát khá nhiều nhánh chuyên sâu khác sau khi một số nền tảng cơ bản đã được giới thiệu trong tập đầu.

Với kinh tế học vĩ mô theo nghĩa hẹp những khái niệm thường gặp trên báo chí như lạm phát, thất nghiệp, GDP được giải thích khá cặn kẽ thông qua những hình ảnh và lời thoại dí dỏm. Bằng cách giới thiệu hai trường phái vĩ mô chính có nhiều điểm đối nghịch: trường phái cổ điển và trường phái Keynes, Klein và Bauman đã khéo léo giải thích cho người đọc thấy tại sao các nhà kinh tế lại có thể có quan điểm rất khác nhau khi đối mặt cùng một vấn đề. Đỉnh điểm của sự khác biệt này là quan điểm về vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế thị trường. Xét cho cùng kinh tế học vẫn là một ngành khoa học xã hội mà nhân sinh quan của các nhà kinh tế có vai trò rất lớn định hình quan điểm về thế giới quan của họ, không chỉ trong kinh tế học vĩ mô mà cả các vấn đề chính trị xã hội rộng hơn như bảo vệ môi trường, công bằng xã hội… Continue reading Làm quen Kinh tế học qua biếm họa – Tập 2: Kinh tế Vĩ mô – Lê Hồng Giang

Làm quen Kinh tế học qua biếm họa – Tập 1: Kinh tế Vi mô – Lê Hồng Giang

lam-quen-kinh-te-hoc-qua-biem-hoa-tap-1-01Lời giới thiệu và trích đăng cuốn “Làm quen kinh tế học qua biếm họa, tập 1: Kinh tế Vi Mô, của Grady Klein & Tiến sĩ Yoram Bauman, bản dịch của Lê Khánh Toàn.

Kinh tế có lẽ là một trong những khía cạnh xã hội được mọi người quan tâm nhiều nhất. Người ta có thể thờ ơ với chính trị, nghệ thuật, tôn giáo hay thậm chí khoa học, nhưng hiếm có ai không động chạm ít nhiều đến các vấn đề kinh tế mỗi ngày. Tuy vậy kinh tế học, ngành khoa học về kinh tế, lại không mấy phổ biến trong dân chúng và đôi khi cả trong giới trí thức.

Một ví dụ điển hình là dù một loại thuế đánh lên nhà sản xuất hay lên người tiêu dùng thì cuối cùng cả hai bên đều phải chia sẻ gánh nặng của sắc thuế đó. Vậy nhưng không ít người muốn nhà nước chỉ đánh thuế lên doanh nghiệp chứ không lên các sản phẩm họ mua hàng ngày. Những khiếm khuyết nhận thức về kinh tế như vậy có thể là hệ quả của sự thiếu vắng môn kinh tế học trong trường phổ thông mà đáng ra nó phải được chú trọng tương đương như lịch sử hay vật lý chăng?

Cuốn sách tranh này của hai tác giả Klein và Bauman sẽ giúp cho những ai muốn bổ sung kiến thức cơ bản về kinh tế học một cách nhanh gọn và nhẹ nhàng nhất. Yoram Bauman, một giáo sư kinh tế của đại học Washington được hàng triệu lượt xem trên YouTube và trình diễn ở khắp các trường đại học và câu lạc bộ hài trên toàn thế giới, kết hợp với họa sĩ truyện tranh Grady Klein đã chuyển tải những khái niệm và lý thuyết quan trọng nhất của kinh tế học qua những mẩu thoại và giải thích dí dỏm. Continue reading Làm quen Kinh tế học qua biếm họa – Tập 1: Kinh tế Vi mô – Lê Hồng Giang

Làm quen Thống kê học qua biếm họa – Vũ Hà Văn

lam-quen-thong-ke-hoc-qua-biem-hoa-01Lời giới thiệu và trích đăng cuốn “Làm quen thống kê học qua biếm họa” của hai tác giả Grady Klein & Tiến sĩ Alan Dabney, bản dịch của Nguyễn Hữu Thọ.

Viết sách toán cho nhà toán học đọc thì dễ, nhưng viết sách toán cho tất cả mọi người là một việc rất khó làm.

Lý do thứ nhất là bản thân toán học khô khan. Một câu chuyện có nội dung toán học mà ngộ nghĩnh đến mức khiến bạn phải cười tủm tỉm ư? Ít khi gặp lắm.

Lý do thứ hai là một phần rất lớn của toán học không liên quan trực tiếp đến cuộc sống ngày thường của chúng ta. Thường là chúng chẳng có một ứng dụng cụ thể nào mà bạn cần hay muốn quan tâm đến.

Quyển sách mà bạn đang cầm trên tay là một ngoại lệ hiếm hoi. Nó sẽ làm bạn cười, làm bạn ngạc nhiên, và quan trọng nhất, làm thay đổi cách bạn nhìn nhận cuộc sống và giúp bạn có những quyết định đúng đắn hơn. Bạn có thể hiểu rõ hơn nguyên tắc ước lượng trong các cuộc bầu cử hay một số nguyên lý đầu tư, hoặc lý giải tác hại của cờ bạc bằng cơ sở toán học. Continue reading Làm quen Thống kê học qua biếm họa – Vũ Hà Văn

Phong cách sử Tạ Chí Đại Trường – Tùng Phong

chuyen phiem su hoc.u335.d20160712.t112657Nhân dịp mới đây Công ty Sách Nhã Nam cho xuất bản và phát hành cuốn sách Chuyện phiếm sử học – tập hợp ghi chép đa dạng những năm cuối đời của Tạ Chí Đại Trường. Bài viết này như một lời tri ân đối với Tạ Chí Đại Trường, với những gì ông đã đóng góp cho giới sử học trong và ngoài nước.

Tạ Chí Đại Trường sinh ngày 21-6-1938 tại Nha Trang, quê gốc ở Bình Định. Ông bắt đầu công việc nghiên cứu sử liệu Việt Nam từ trước 1975. Các công trình của ông được giới sử học trong và ngoài nước đánh giá cao, không phải chỉ bởi sự công phu, cẩn thận, tỉ mỉ khi xử lý tư liệu mà quan trọng hơn là cách nhìn nhận, đánh giá của ông về lịch sử Việt Nam có rất nhiều điều mới mẻ, nhiều kiến giải quan trọng, tạo nên một “phong cách sử học” riêng. Có thể kể đến một vài tác phẩm tiêu biểu của ông được xuất bản ở Việt Nam gần đây như Những bài dã sử Việt (2009), Người lính thuộc địa Nam Kỳ 1861 – 1945 (2011), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (2012), và Thần, người và đất Việt (2014).

Đọc các bài viết, tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường, người đọc thấy ở đó một giọng văn nghiêm túc, câu chữ khúc chiết mà cô đọng, ngôn từ chuẩn xác mà phong phú. Cùng cách viết khi thì châm biếm sâu cay, lúc lại hóm hỉnh dí dóm. Dựa trên nguồn sử liệu quốc sử chính thống cùng các tư liệu liên ngành, qua góc nhìn mới mẻ, không đi theo lối mòn của các sử gia thời xưa hoặc chịu ảnh hưởng của chính trị, các tác phẩm của ông gần gũi, đi vào những vấn đề vô cùng “gai góc” hoặc rất đỗi “bình dị”. Từ chuyện nội chiến ở Việt Nam giai đoạn 1771-1802 đến hình ảnh người lính Nam kỳ 1861-1945, đến chuyện sex qua các triều đại và quyền lực của đồng tiền, thần tiền.

Trở lại với tác phẩm gần đây nhất của ông là Chuyện phiếm sử học, ở đó có những bài viết đã từng xuất bản, những bài viết mà ông vô cùng tâm đắc, trong đó có “Sex và triều đại”. Sex là chuyện bình thường, là thứ thuộc về bản chất của con người. Continue reading Phong cách sử Tạ Chí Đại Trường – Tùng Phong