Tại sao trang thương mại điện tử của Alibaba có tên là Taobao

ebook-ti-phu-khung-jack-ma-va-de-che-alibaba-full-prc-pdf-epub-azw3Nhã Nam Kinh Tế đang biên tập một cuốn sách tên là Team Genius. Cuốn sách này khá dày, nhưng chỉ nói về một vấn đề: làm sao xây dựng được các nhóm làm việc (team) có hiệu suất cao, thậm chí đạt được ngưỡng xuất sắc.

Tại sao lại cần cả một cuốn sách chỉ để nói về việc xây dựng nhóm làm việc (team building). Đó là bởi tất tần tật các công ty trên thế giới đều phải dựa vào team. Các công ty nhỏ thì chỉ có một vài team nhỏ, thậm chí chỉ có một team chừng 7 người. Các công ty lớn như Apple cũng cần xây dựng các team đặc nhiệm để phát triển sản phẩm mới (ví dụ team phát triển sản phẩm iPhone). Các công ty khởi nghiệp (start-up) lại càng cần xây dựng từ các team nhỏ tối ưu hóa, để lớn dần lên qua các vòng gọi vốn. Cuốn sách đi chi tiết đến tận quy mô team phù hợp với từng vòng gọi vốn. Ví dụ series A thì cần bao nhiêu người, series B, C thì cần bao nhiêu team, mỗi team bao nhiêu người, và tại sao. Và đến quy mô nào thì nên IPO.

Trong lúc đợi cuốn sách Team Genius được xuất bản, các bạn có thể tham khảo vai trò của team trong một công ty lớn: công ty Alibaba. Trong cuốn sách “Tỷ phú khùng Jack Ma và đế chế Alibaba” có nhiều mẩu chuyện liên quan đến việc này:

Taobao là trang bán lẻ trực tuyến của Alibaba tức là của tỷ phú Jack Ma (Mã Vân).

Continue reading Tại sao trang thương mại điện tử của Alibaba có tên là Taobao

Advertisements

Thế giới khác đi nhờ có bạn – Tự truyện Lý Khai Phục

the-gioi-di-nho-co-ban-01.u5102.d20170405.t173626.208442Thế giới khác đi nhờ có bạn, tác giả Phạm Hải Đào, dịch giả Phan Thu Vân. 

Lý Khai Phục là một nhà khoa học máy tính người Mỹ gốc Hoa, tiên phong trong lĩnh vực nhận dạng tiếng nói. Lý Khai Phục có may mắn được làm việc trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới: Apple, Microsoft, Google; có điều kiện tiếp xúc sâu với các lãnh đạo công nghệ hàng đầu thế giới: Bill Gates và Steve Ballmer của Microsoft, Larry Page và Sergey Brin của Google, … và cả Steve Jobs của Apple nữa.

Trong đoạn trích dưới đây Lý Khai Phục kể lại lần ông được mời đến Google để phỏng vấn tuyển dụng.

*

**

Giám đốc Eric Schmidt lúc đó đã lặng lẽ bước vào phòng. Tóc ông bạc trắng, nụ cười thắp sáng gương mặt, chào tôi một cách rất thân thiện. Sau vòng phỏng vấn thứ nhất, ông rất tự nhiên, thoải mái trò chuyện phiếm với tôi: “Khai Phục, hôm nay mời anh đến thực ra không tính là phỏng vấn. Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là nắm được những điều anh còn lo lắng, đồng thời cũng muốn biết anh nghĩ thế nào về việc các công ty đa quốc gia luôn thất bại ở Trung Quốc. Anh muốn tôi làm gì?”

“Eric, anh biết đấy, tất cả các công ty mạng tới Trung Quốc đều chung một số phận là thua đau, hoạt động vận hành đều thất bại. Tôi muốn biết, Google liệu có vấp phải thất bại giống như các công ty mạng khác hay không?” Tôi nói ra một trong những điều lo lắng trong lòng.

Eric Schmidt gật đầu, nói: “Chúng tôi hy vọng người dùng Trung Quốc có thể tìm kiếm được thông tin trên toàn thế giới thông qua Google, đồng thời nhận thức được đây là một thương hiệu tốt. Chúng tôi có kế hoạch dài hạn ở Trung Quốc, nên sẽ không dùng tầm nhìn nhìn ngắn hạn để bức bách anh.” Ông thấy tôi yên lặng lắng nghe thì nói tiếp: “Hạn chế của Google không phải là lượng người dùng không tăng lên, mà là không có đội ngũ người Trung Quốc làm ra giao diện và công nghệ mà người Trung Quốc cần. Tôi tin anh có thể tuyển được những nhân tài xuất sắc nhất người Trung Quốc, làm ra sản phẩm mà người Trung Quốc cần nhất. Theo anh Google phải hoạt động như thế nào ở Trung Quốc thì mới có thể thành công?”

Continue reading Thế giới khác đi nhờ có bạn – Tự truyện Lý Khai Phục

Mùa thu vàng những câu đố Mát-xcơ-va – Nguyễn Quốc Khánh

nhung_bai_toan_do_Matxcova01“Những câu đố Mát-xcơ-va” gồm 359 bài toán được tuyển chọn kỹ lưỡng công phu, với những hình minh họa trực quan sinh động, cùng lối kể chuyện lôi cuốn và đầy thú vị của tác giả. (Tác giả: Boris Kordemsky, dịch giả: Vi Bích).

Thuở nhỏ, trong nhà tôi có một tủ sách gia đình rất xinh. Đó là tủ sách mà bố tôi tự tay đóng tặng mẹ tôi, trong đó xếp đủ thứ sách của cả hai người. Tôi đã lớn lên với những tác phẩm Nga thật đẹp đẽ, giàu triết lý nhưng vẫn khoáng đạt và đặc biệt là đầy nhân hậu.

Giữa những Truyện núi đồi và thảo nguyên, giữa những Bông hồng vàng và bình minh mưa, giữa những Anh béo và anh gầy, giữa những Đêm trước cha và con, tôi đã lớn lên một cách đầy hạnh phúc.

Thời ấy hình như ai cũng yêu thích việc học toán. Và có vẻ ngày nay cũng vậy, không đứa trẻ nào lại không bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm của mình với toán học bằng những bài toán đố, với hàng giờ đồng hồ loay hoay với những que tính, kéo và giấy, những viên bi, với thước thẳng và ê kê, thậm chí với cả những dụng cụ cơ học quái đản để vẽ ra những hình thù đẹp đẽ lạ lùng.

Tôi không thể nhớ chính xác mình đã biết câu đố logic với ba vị thần từ bao giờ, rằng Thần nói thật luôn nói thật, Thần nói dối luôn nói dối, và Thần hay đùa lúc nói thật lúc nói dối.  Đứa trẻ con nào thời đó lại không biết tới những câu đố ấy. Vậy nên, đọc Những bài toán đố Mátxcơva của Kordemsky, tôi tìm lại được sự rung động không thể cưỡng lại được của các câu đố vui như vậy. Continue reading Mùa thu vàng những câu đố Mát-xcơ-va – Nguyễn Quốc Khánh

Văn minh Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên

VanMinhVN-1.6cm GUI LIENTrích đăng từ “Văn minh Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên.

Phần trích dưới đây là Phần I, Chương 12 (Đời Sống Tinh Thần và Nghệ Thuật). Phần I có tên: Ngôn Ngữ. Bao gồm ba tiểu mục nhỏ: 1. Sự Hình Thành Tiếng Việt, 2. Các Hệ Thống Chữ Viết, 3. Ngôn Ngữ Bác Học

(Thông tin chi tiết về tác giả và tác phẩm có ở cuối bài)

Chương Mười hai

ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ NGHỆ THUẬT

NGÔN NGỮ

  1. Sự hình thành tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Nam Á. Ngữ tộc này được nói từ Việt Nam ở phía đông tới cao nguyên Chota Nagpour (thuộc Đông Ấn Độ) ở phía tây. Có lẽ tiếng Việt đã được chồng lên những ngôn ngữ cổ hơn mà ngày nay đã mất, chỉ còn lại một vài tàn dư đây đó trong các phương ngữ Thái, Mường hoặc các phương ngữ vùng cao xứ Trung kỳ. Dù sao, trong những thiên niên kỷ gần đây, nó đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những thứ tiếng khác nhau như: Hán, Mã Lai, Ariăng… là những ngôn ngữ đã mang đến cho nó những yếu tố mới. Thí dụ, các cố gắng không mệt mỏi của linh mục Souvignet đã phát hiện có một quan hệ chắc chắn giữa tiếng Việt với tiếng Mã Lai. Trong tiếng Mã Lai là một ngôn ngữ có tiền tố và hậu tố, người ta thấy nhiều từ có thể quy ra từ Việt: bango (con cò bạch), mangkok (cái cốc), talang (xóm, làng), tương ứng với cò, cốc, làng trong tiếng Việt, darat: đất, sudis (ngày xưa): xưa, màta: mắt, suki (súc miệng): súc

Tiếng Việt cổ cũng có tiền tố. Chỉ cần đi ngược lên thế kỷ XVII để thấy vài dấu vết. Linh mục Alexandre de Rhodes, trong cuốn từ điển của ông xuất bản năm 1649, có ghi ba nhóm phụ âm đầu: bl, ml, tl, đã được thu gọn từ thời kỳ đó (blâu: trâu, blời: trời). Các thổ ngữ Mường, được nói ở Bắc kỳ và Trung kỳ, và có thể coi như một hình thức tiếng Việt cổ, hiện nay còn giữ ba nhóm phụ âm đầu: kl, tl, pl (chẳng hạn, t’lâu: trâu). Ông Przyluski nghĩ rằng, khi so sánh tiếng Việt với tiếng Mường thì thấy rằng tiếng Việt cổ có ít nhất bốn tiền tố k, t, p, m. Trong tiếng Việt hiện đại, hệ thống tiền tố này đã mất hẳn. Nó được thay bằng những từ chủng loại làm cho đa số khái niệm được biểu hiện trong tiếng Việt bằng những từ kép. Tiếng Việt cổ như vậy có quan hệ chặt chẽ với các tiếng Môn-Khmer, là những ngôn ngữ tạo ra những từ phái sinh bằng cách thêm tiền tố và trung tố.

Continue reading Văn minh Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên

Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh

viet-nam-van-hoa-su-cuongTrích từ Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh.

Tổ tiên ta bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu đời Bắc thuộc, mà có lẽ từ đời Triệu Đà nữa, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp. Cách tổ chức ấy, sử sách không chép rõ như thế nào, song ta có thể đoán là còn sơ sài lắm, mà trình độ giáo dục cũng chưa được cao, cho nên phàm những người có tiếng về học vấn ở thời đại Bắc thuộc đều đã du học ở Trung Quốc (Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng). Đến triều Ngô và triều Đinh độc lập vì trị nước không được lâu mà lại phải lo chỉnh đốn việc võ bị và chính trị, chưa rảnh mà tổ chức việc giáo dục, cho nên việc học bấy giờ chỉ có ở trong các chùa chiền. Ta có thể nói rằng đời bấy giờ Hán học nhờ Phật học mà truyền bá ở trong dân gian. Lý Công Uẩn là vua sáng nghiệp của triều Lý, cũng từng chịu giáo dục ở nhà chùa[1].

Triều Lý, đến đời Lý Thánh Tôn (1054-1072) thì việc dẹp loạn đã tạm yên, việc chính trị cũng đã chỉnh đốn, nên vua đổi quốc hiệu là Đại Việt và bắt đầu sửa sang việc học. Ngài sai lập Văn Miếu (nước ta có Văn Miếu là từ đấy), sai làm tượng Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền để thờ, tỏ ý tôn trọng Nho học. Đời vua Trần Nhân Tôn, năm 1075 mở khoa thi tam trường để chọn người minh kinh bác học bổ làm quan, đó là kỳ thi thứ nhất ở nước ta, chọn được mười người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076 vua lại lập trường Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài, rồi đến năm 1086 lại mở khoa thi chọn người vào Hàn lâm viện, có Mạc Hiển Tích đậu đầu, được bổ Hàn lâm học sĩ. Thời bấy giờ Nho giáo đã được suy tôn, song Phật giáo và Lão giáo cũng đồng thịnh cho nên nhà vua lại thường mở khoa thi tam giáo (đời Lý ASang triều Trần, ngay đời Trần Thái Tôn, việc giáo dục và khoa cử đã tổ chức châu đáo hơn ở triều Lý. Năm 1232, ngoài phép thi tam trường như đời trước lại mở thêm khoa thi Thái học sinh, chia làm tam giáp để phân biệt cao thấp (theo phép thi của nhà Minh nước Tàu). Đến khoa thi năm 1247 lại đặt ra tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa) ở trên Thái học sinh. Cũng năm ấy lại có khoa thi tam giáo bắt học sinh phải thi cả ba môn Nho học, Phật học và Lão học. Năm 1253, lại lập Quốc học viện để giảng tứ thư ngũ kinh và lập Giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Ta xem thế thì thấy ở đời Trần Thái Tôn, không những phạm vi việc học rộng rãi, kiêm trọng cả Nho, Phật, Lão, mà việc giáo dục lại trọng cả trí dục và thể dục. Tiếc vì sử sách chép sơ lược ta không thể nghiên cứu rõ ràng về cách tổ chức và chương trình.

Continue reading Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh

Sử ký: thiên cổ kỳ thư – Thanh Khê

su-ky_3_

Tư Mã Thiên tự Tử Trường, làm Thái sử lệnh thời nhà Hán, được tôn là sử thánh của Trung Hoa. Lên mười đã thông thuộc nhiều kinh sử văn chương, hai mươi tuổi đã theo cha du hành tứ hải. Giữa thời buổi nghề viết văn viết sử bị “Chúa thượng đùa bỡn, nuôi như bọn con hát”, còn “Thế tục thì vẫn coi thường”, mà cha con họ Tư Mã vẫn ôm mộng làm Chu Công, Khổng Tử. Mới thấy, đó không phải là lối tư duy lọc lõi của kẻ thức thời.

Sinh thời thân phụ ông cũng làm sử quan, nhưng mộng lớn dở dang, trước khi qua đời đành gửi gắm lại cho con trai. Chí lớn, tâm hồn phóng khoáng là thế, mà tính tình cương trực, thân cô thế côi. Đến nỗi phải chịu cung hình, đứng ngang hàng với đám hoạn quan, nỗi nhục lớn nhất đối với bậc chính nhân quân tử. “Thân thể tàn phế, uất ức một mình chẳng biết tỏ cùng ai”, cực chẳng đã bèn nuốt hận mà sống, lặng lẽ biên chép thế sự, gửi cho hậu thế. Bởi vậy mà Sử ký của họ Tư Mã mang tầm vóc của ngàn năm, chứ không phải thứ tham vọng công danh đương thế, cũng chẳng phải lời lẽ bợ đỡ quân vương.

Nói về tầm vóc của Sử ký, khó mà gói gọn trong một vài lời được. Lỗ Tấn bảo “một tập Ly Tao không vần”. Quách Mạt Nhược lại đánh giá đây là bản tổng kết văn hóa Trung Quốc lần thứ hai, công lao so với Khổng Tử thì “không hơn không kém”. Sử ký đồ sộ, trước nay chỉ có vài bản tuyển dịch vào Việt văn. Nên nỗ lực dịch trọn bộ của công ty sách Nhã Nam, có thể nói là lần đầu tiên.

Đó cũng là điều dễ hiểu. Vì trong số 5 phần của Sử ký, Bản kỷ phần nhiều là huyền sử, hoặc nếu không cũng thuộc một thời quá vãng xa xôi, khó gợi nên niềm hứng khởi. Biểu, Thư tuy hệ thống, công phu nhưng e không hợp với tính giải trí đơn thuần. Có chăng là Thế gia, và Liệt truyện, các phần dài nhất, và hấp dẫn nhất đối với đông đảo độc giả. Chi tiết bài viết này xin được dành cho phần Liệt truyện quyển thượng, phần mới nhất vừa được ra mắt của bộ Sử ký. Continue reading Sử ký: thiên cổ kỳ thư – Thanh Khê

Làm quen Triết học qua biếm họa – Ngô Bảo Châu

lam-quen-triet-hoc-qua-biem-hoa-01Lời giới thiệu và trích đăng cuốn “Làm quen triết học qua biếm họa” của Michael F.Patton và Kevin Cannon, bản dịch của Đỗ Trí Vương.

Bertrand Russel xác định vị trí của triết học là nằm ở đâu đó trong khoảng trống giữa thần học và khoa học. Giống như thần học, không thể trả lời những câu hỏi triết học đến tận cùng, hiểu biết của triết học luôn mang tính bất toàn. Mặt khác, giống như khoa học, triết học vận hành bằng lý trí và suy luận chứ không cho phép mình nương vào đức tin, mạc khải hay lý lẽ quyền lực. Nếu như khoa học chưa đưa ra được câu trả lời thích đáng cho những suy tư nguyên thuỷ của con người, thì những câu trả lời mà thần học đem đến ngày nay có vẻ không còn tính thuyết phục như trước đây. Vì thế mà dù cho câu trả lời của triết học thiếu tính xác quyết, nó thật cần thiết cho những ai còn ngay ngáy suy tư.

Nhà toán học ngày nay ít khi đọc trực tiếp sách của các tiền bối như Euler, Gauss … vì những khái niệm và định lý quan trọng của Euler và Gauss liên tục được tổng quát hoá và làm cho sáng, cho rõ hơn. Tính kế thừa trong triết học thì rất khác. Người đi sau đôi khi, thậm chí thường xuyên phủ định những gì người đi trước nói, nhưng bản thân sự phủ định đó thường không triệt để vì định đề triết học không có tính xác quyết tuyệt đối như toán học. Vì thế, học triết vẫn phải bắt đầu từ lịch sử triết học để qua đó, người học nắm bắt được những luận cứ cơ bản của những bộ óc triết lý theo dòng lịch sử. Chính những luận cứ đó, có lúc bổ trợ cho nhau, có lúc đối lập thậm chí mâu thuẫn với nhau, làm nên nền tảng của triết học.

Làm quen triết học qua biếm họa của Patton và Cannon là một quyển sách đáng yêu. Nó dành cho bất cứ ai còn có suy tư và băn khoăn về triết học. Các luận cứ cơ bản của các triết gia lớn được trình bày một cách giản dị, dễ hiểu, thoang thoáng hài hước mà càng đọc, người đọc càng bị cuốn hút hơn bởi những câu hỏi triết học. Các nhân vật, những bộ óc triết lý lớn của lịch sử, không xuất hiện theo trình tự thời gian, mà theo trình tự của những câu hỏi triết học. Continue reading Làm quen Triết học qua biếm họa – Ngô Bảo Châu